.

Vui buồn nghề bắt cáy

Cập nhật lúc 07:06, Chủ Nhật, 05/06/2011 (GMT+7)
Từ thị trấn Quảng Yên, qua cầu Sông Chanh sang đảo Hà Nam (huyện Yên Hưng), đi khoảng 15km nữa theo con đường liên xã thì sẽ tới Vị Khê (xã Liên Vị). Đó là một cái thôn như bao thôn khác ở miền quê,  ngoại trừ việc ở đây vẫn còn tồn tại cái nghề "đi ngòi" truyền thống của bà con miền sông nước...


Vài lạng cáy bà Vang dành lại cho bữa cơm chiều đạm bạc.

Rủ nhau bắt cáy, bắt còng...

"Đi ngòi" - đó là tên gọi để chỉ một trong những công việc của người dân biển. Họ đi bộ, bước chân nặng trĩu ì oạp dưới bùn, sục sạo dưới những tán rừng ngập mặn khi nước triều đã rút. Người thì đánh hà, xỉa ngán, người thì bắt cua, đơm cá v.v... Nhưng, "Giờ thì làm gì còn cua với ngán, cả một dải rừng ven đê trước đây nay đã được giao cho những ông chủ quai đầm, be bờ nuôi tôm hết tiệt!" - Bà hàng nước đầu thôn tỏ vẻ am tường. Rồi bà tiếp chuyện: "Thời buổi bây giờ biết đâu mà tiếc, nhưng cứ ngẫm cái dạo mười mấy, hai mươi năm về trước, cua cá đâu ra mà nhiều thế! Đi trên bờ cũng thấy cua bò lổm ngổm dưới rừng...". Vậy là, khi tài nguyên từ rừng và biển dần cạn kiệt, người đi ngòi thôn Vị Khê lại chuyển sang nghề bắt cáy. Cũng vẫn là đi ngòi, nhưng bắt cáy chỉ được xếp hạng "hạ lưu" so với cái thời đông cua, nhiều ngán...

3 giờ sáng, bà Nguyễn Thị Vang (thôn vị Khê, xã Liên Vị, huyện Yên Hưng) đã lục tục xô chậu ra thuyền. "Cua, cáy tháng ba/ Cà ra tháng mười". Cứ thế mà làm, từ dạo đầu hè bà Vang phải dậy sớm, quáng quàng gói chút cơm nguội rồi đẩy thuyền, chèo hơn 2 tiếng đồng hồ về hướng cuối Đầm Nhà Mạc, nơi có cái gò bãi nổi lên giữa biển, gọi là bãi Lồng Đèn. "Phải đi từ sáng sớm, chứ không ra đó mà ngắm nước lụt à?" - Người đàn bà ngoài 60 tuổi, dáng người nhỏ thó mà nhanh nhẹn, phô hàm răng cười đôn hậu. Ở cái tuổi ấy, bà Vang lẽ ra đã được nghỉ ngơi, nhưng bà vẫn làm quần quật như một thanh niên, khiến cả cái làng Vị Khê phải nể phục. "Bà lão người cứ quắt như gốc sắn khô, ấy vậy mà không hiểu sao lại có sức lực dẻo dai đến thế" - Chị Vũ Thị Lương, người cùng đội đi bắt cáy với bà Vang nói.

5 giờ, vài đám mây mùa hạ đã rạng dần, soi thấp thoáng những bóng người lom khom trên bãi Lồng Đèn.

Mới sáng sớm mà đã có đến bốn, năm chục người đổ về đây bắt cáy, đánh hà, chắn đọn... Đội bắt cáy luôn đông nhất, vì lượng cáy ở đây nhiều, bắt cũng tương đối dễ hơn so với các con khác. Ấy vậy nhưng chỉ dễ với những người chuyên nghiệp, vì con cáy rất nhanh. Có hai cách bắt cáy thông thường là đi bắt và đi câu. Nhưng đi câu mới là cách bắt được nhiều nhất. Dụng cụ câu cáy rất đơn giản. Cần câu làm bằng loại nứa vườn dài chừng 5m, đầu cần có thòng lọng thường làm bằng lông đuôi bò. Loài cáy đỏ còng rất dữ, cứ hễ có động là giơ càng để giao chiến, người đi câu chỉ việc lựa cho thòng lọng vào càng cáy rồi giật nhẹ là bắt cho vào giỏ đeo sau lưng. Đứng một chỗ giương cần ra bốn xung quanh có thể câu được vài chục con. Câu cáy rất vất vả, thường là con trai đi câu mới chịu được nắng, còn phụ nữ thì đi xắn cáy. Người giỏi phải biết được hang cáy để dận chân xuống bên cạnh hang, đồng thời cho tay vào miệng hang, đợi cáy thò lên là bắt lấy. Người bắt vừa phải chịu nắng vừa phải chịu đau vì cáy quắp mới bắt được. Cáy bắt bằng tay thường là loại cáy nâu thân gộp mỏng rất nhiều thịt...

8 giờ sáng, mặt trời đã chói chang trên bãi Lồng Đèn. Hàng trăm vết chân nhàu nát in dấu dưới bãi bùn lầy lội. Cứ mỗi lần dận chân là bà Vang lại lôi lên được một con cáy. Chỉ từ 5 giờ đến 9 giờ sáng, cái xô nhựa của bà đã đựng gần đầy, áng chừng 5-6kg cáy. Nước đã mấp mé ven bờ, rồi dần dần nhấn chìm những dấu chân người đi trên bãi. Đó cũng là lúc bà Vang, chị Vò, anh Son, chị Lương - những người đi bắt cáy ở thôn Vị Khê - lục tục xô, giỏ ra thuyền, ngược đầm Nhà Mạc trở về ngôi làng xa tắp. Mồ hôi đọng thành hàng dài trong kẽ nếp nhăn, rồi chảy xuống từng giọt trên khuôn mặt những người đàn bà lam lũ...

 
Bãi Lồng Đèn, mảnh đất kiếm cơm hiếm hoi còn sót lại của những người đi ngòi ở đảo Hà Nam.

“...Ăn cơm mắm cáy thì ngáy pho pho”

Buổi trưa, thôn Vị Khê vắng người. "Đoàn quân" bắt cáy trở về làng khi mặt trời đã lên tới đỉnh. Mấy chiếc xô, giỏ đựng cáy vứt chỏng chơ dưới thuyền. Ấy là khi số lượng cáy của cả buổi làm đã bán cho những người thu mua từ Hải Phòng đến. 25 đến 30 nghìn đồng/cân cáy, người giỏi thì bắt được ngót chục cân, người mới vào nghề như chị Lương hôm nay chỉ bắt được 4 cân cáy, "Bình quân mỗi buổi cũng kiếm được trăm, hơn trăm nghìn" - chị Lương thật thà.

Có người dành vài lạng cáy mang về cho bữa cơm chiều đạm bạc. Cáy bắt về cho vào rổ úp hai cái làm một đem xuống sông hoặc ao xóc cho kỳ sạch bùn rồi đổ vào chậu, cho chút nước sôi nóng để cáy chết làm cho dễ. Cáy phải đem phân loại. Con cáy lông thường hôi và ăn không lành nên chọn để cho lợn ăn, con cáy cái được chọn riêng. Người nấu ăn dùng lưỡi dao nhỏ lách yếm gạt lấy trứng cáy. Trứng cáy đem rang khô bỏ vào lọ ăn dần, hoặc người ta hay cho trứng cáy vào những loại canh rau dân dã như rau đay, ngót, mồng tơi. Trứng cáy ngon, béo bùi chứ không khô và chẳng có vị gì nhiều như trứng cua đồng.

Con cáy đỏ còng lấy còng to đem chặt phần kìm nhọn đi, lấy khúc giữa đem giã để nấu canh. Còn thân cáy đem bóc yếm, bóc gộp chỉ lấy phần thân rồi đem vào cối giã thật nhuyễn, sau đó trộn lượng muối vừa đủ rồi đem phơi nắng. Khi phơi được nắng, phần thịt cáy và nước tự nổi lên, chỉ việc đem chắt vào vại riêng rồi trộn thính tiếp tục phơi nắng. Càng phơi được nắng mắm chín càng nhanh và thơm ngon. Mắm cáy phơi độ một tháng là ăn tốt. Mắm cáy thường được đem chấm với thịt ba chỉ luộc, hay chấm với rau lang, rau dền, cà pháo. Nếu làm nước mắm cáy thì dễ làm hơn. Cáy giã nhuyễn rồi đổ vào vại sành cho thính, muối vào đem phơi nắng, khi cần lấy nước mắm cáy để ăn thì chỉ cần đặt vỉ tre đan vừa khít miệng vại rồi dùng hòn đá cuội đè lên mắm sẽ tiết ra dần rồi chắt lấy đem vào ăn sống hoặc đem chưng. Mắm cáy khi đã "ngấu" chỉ cần thêm chút tỏi, ớt, vắt chút chanh vào, mắm ngon sẽ sủi bọt lên, lúc này thì có thêm ít cọng khoai lang, rau muống, rau dền… luộc lên chấm kèm thì ngon tuyệt, nhắc đến thôi đã tứa nước miếng rồi...

Bữa cơm chia tay với người bắt cáy làng Vị Khê, đương nhiên không thể thiếu món cáy. Bà Vang đã dành cho tôi món ăn dân dã mà hấp dẫn ấy, với tất cả mồ hôi, công sức và niềm trân trọng. Bà bảo: "Tưởng cao lương gì, chứ cái món quê mùa ấy nhà tôi lúc nào cũng sẵn cả hũ, chỉ sợ nhà bác chê không dám mang về". Cứ ngỡ ngày xưa thiếu thốn nên thấy mắm cáy mới ngon, giờ chợt nhận ra khi càng đủ đầy, càng thấy trân trọng hơn cái vị dân dã, chân quê, chứa đựng bao cực nhọc ấy.

Vất vả, nhưng nghề bắt cáy vẫn tồn tại ở Vị Khê giữa thời buổi kinh tế thị trường, một phần do không còn nghề nào khác, một phần muốn níu giữ cái nghề của cha ông. Cáy về, cả nhà xúm xít ngâm, đãi, giã... rồi còn chia nhau cho con gái, con dâu từng chai mắm cáy về nhà ăn thử. Ông bà có câu: "Ăn thịt bò thì lo ngay ngáy, ăn cơm mắm cáy thì ngáy pho pho", hàm ý khuyên con cháu đừng quá bon chen với người đời, hãy biết an phận vừa lòng với hoàn cảnh, miễn sao lương tâm mình thanh thản là tốt rồi. Hơn ai hết, bà Vang, chị Vò, anh Son... biết chấp nhận cuộc sống thực tại của mình mà vui cùng "đời cáy"...

,
.
.
.
.
.