.

“Duy trì sĩ số là khâu rất quan trọng trong việc lấp dần khoảng cách giữa giáo dục miền núi và giáo dục miền xuôi...”

Cập nhật lúc 05:10, Chủ Nhật, 18/11/2012 (GMT+7)

(Nhà giáo Nguyễn Thị Lan, Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Quảng Đức, huyện Hải Hà, trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh)

Chị là một trong bốn nhà giáo của Quảng Ninh vừa tham dự hội nghị “Gặp mặt biểu dương nữ nhà giáo tiêu biểu đang công tác tại biên giới hải đảo, vùng cao, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” do Bộ GD&ĐT tổ chức nhân kỷ niệm 30 Ngày nhà giáo Việt Nam 20-11 (1982-2012)...

- Nghe nói tại hội nghị, chị đã tham luận về việc làm thế nào để duy trì sĩ số học sinh ở các vùng biên giới, hải đảo khó khăn… Chị có thể nói rõ hơn về điều này được không?

+ Đối với các trường ở biên giới hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, đặc biệt đối tượng là học sinh dân tộc thiểu số, có lẽ việc thực hiện tốt công tác giảng dạy giúp các em tiếp thu kiến thức không thôi thì chưa đủ. Bởi việc các em có được kiến thức vững chắc không chỉ phụ thuộc vào việc dạy của người thầy, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan tác động. Trong đó, việc làm sao để các em đến trường thường xuyên và đông đủ đã là không đơn giản rồi. Vốn quen sống tự do theo ý thích, lại chưa nhận thức được tầm quan trọng của học hành nên với nhiều em khi bị đưa vào “khuôn khổ” thì quả là như một “cực hình”... Chính vì điều này mà không ít em học sinh, nhất là những học sinh mới đến ở nội trú, luôn thường trực ý định bỏ buổi, nghỉ học... Những năm gần đây tình trạng học sinh bỏ học không còn diễn ra nhiều như trước, nhưng hiện tượng nghỉ học cách nhật, đặc biệt là vào mùa vụ hay các dịp lễ tết, vẫn luôn xảy ra. Là người làm công tác quản lý tại một trường PTDT bán trú THCS, tôi hiểu rõ vấn đề cấp bách của công tác duy trì sĩ số, chống học sinh bỏ học, bỏ tiết để nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo chuẩn phổ cập THCS. Qua các năm học thực hiện một số biện pháp vận động học sinh ra lớp, duy trì sĩ số, tôi cũng đã tự rút ra được những kinh nghiệm riêng trong công tác chỉ đạo của mình. Và vì thế, ở hội nghị, tôi đã chọn vấn đề này để tham luận, hy vọng chia sẻ với các bạn đồng nghiệp những giải pháp, kinh nghiệm của mình…

- Vậy giải pháp mà chị đưa ra là gì?

+ Tôi đã có 30 năm giảng dạy ở huyện miền núi với điều kiện khó khăn và rất tâm đắc với câu nói: “Muốn có học sinh thì phải hiểu học sinh”. Nghĩa là một khi muốn vận động các em đến lớp, điều quan trọng với một giáo viên là phải nắm rõ về hoàn cảnh, điều kiện sinh hoạt, học tập của các em tại gia đình để rồi từ đó đưa ra những biện pháp vận động thuyết phục phù hợp. Cái này cần được quán triệt ngay từ đầu năm học. Cụ thể, ngay từ đầu năm học, nhà trường và mỗi giáo viên chủ nhiệm phải khảo sát điều tra để nắm vững hoàn cảnh học sinh, em nào cư trú tại các thôn, bản nào, em nào hiện đang gặp khó khăn, có khả năng không tham gia học tập chuyên cần v.v.. Từ đó kịp thời động viên các em bằng hình thức kêu gọi hỗ trợ giúp đỡ trong khả năng có thể về vật chất, làm sao để các em đảm bảo “ba đủ” (đủ ăn, đủ mặc, đủ quần áo đến trường). Tôi còn nhớ hồi tôi mới lên nhận công tác ở trường này, học sinh chỉ có mỗi một bộ quần áo tươm tất để đi học. Thế là cứ sáng mặc đi học thì đến chiều tối lại giặt sạch để ngày mai mặc tiếp. Thấy vậy, các thầy cô trong trường đã cùng nhau phát động chương trình xin quần áo cũ cho học sinh liên tiếp trong vòng hai năm liền. Nhờ đó, không những học sinh trường tôi mà cả các em trường mầm non và tiểu học cũng có thêm quần áo để mặc. Việc này cũng đã góp phần không nhỏ vào việc chống tình trạng nghỉ học, bỏ học. Ngoài ra, quá trình tuyên truyền vận động từ lời nói, cử chỉ, hành vi phải thể hiện được sự chân thành, sự đồng cảm với hoàn cảnh của học sinh để tạo sự tin tưởng đối với phụ huynh và học sinh. Đặc biệt là tránh cách vận động khô cứng, nói những câu thiếu sức thuyết phục như “-Đi học đi, ở nhà làm gì” hoặc “-Cho con đi học chứ sao lại bắt con ở nhà?”… Tôi nhớ một lần đến nhà em Hán Tài Múi, học sinh lớp 9, để khuyên em trở lại trường. Hôm đấy, vừa thấy bóng tôi ở ngoài ngõ, nét mặt Tài Múi đã thoáng chút hoảng sợ, em lẩn rất nhanh. Tôi vào nhà, tìm mãi chẳng thấy em đâu cả. Khi nhìn xuống gầm giường thì trời ạ, em đang chui tận trong góc và hét lên “Má ning! Má ning!” (tiếng Dao là “Không đi!Không đi!”). Tôi cũng nói lại với em ấy bằng tiếng Dao: “Ning!”. Nghe vậy, Tài Múi lại càng sợ hơn, co người vào một góc… Tôi hiểu là cần phải thay đổi “chiến thuật” nên dỗ dành: “Ừ, không đi cũng được, nhưng ra đây với cô. Không sao đâu!”. Cuối cùng thì Tài Múi cũng chịu chui ra khỏi gầm giường… Tôi vừa chải đầu, tết tóc cho em, vừa nói rõ tác dụng của việc đến trường, tất nhiên là theo cách đơn giản, dễ hiểu nhất. Cô trò cứ thủ thỉ với nhau, và tôi mừng khôn xiết khi em ấy ngập ngừng nói: “-Nhưng cô phải đứng ở cổng trường đón Tài Múi!”. Thế là đồng ý đấy… (cười).

Toàn cảnh trường PTDT bán trú Quảng Đức (Hải Hà).
Toàn cảnh trường PTDT bán trú Quảng Đức (Hải Hà).

- Với 30 năm làm nghề dạy học ở một huyện miền núi, chị đã trải qua những công việc như thế nào? Chị thấy dạy ở một trường bán trú có vất vả hơn ở các trường khác?

+ Tôi tốt nghiệp chuyên ngành Địa Sinh của Trường Sư phạm 10+3 Uông Bí (nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Uông Bí) năm 1981 và được phân công về dạy tại Trường PTCS Quảng Minh (nay là Trường THCS Quảng Minh). Công tác ở đây được 21 năm thì tôi được đề bạt lên làm Phó hiệu trưởng Trường THCS Quảng Thành từ năm học 2002-2003 đến năm học 2006-2007. Đến đầu năm 2007, tôi mới nhận quyết định làm Hiệu trưởng Trường THCS Quảng Đức, ngôi trường có 100% học sinh là con em các dân tộc tại xã biên giới, xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 của huyện. Và đến năm 2011, Trường đã chuyển đổi loại hình từ THCS sang PTDT bán trú như hiện nay. Phải nói thật rằng khi nhận công tác ở ngôi trường này, tôi mới thực sự hiểu, thấm và ngấm những khó khăn của người làm công tác giáo dục ở vùng cao đặc biệt khó khăn. Còn nhớ những ngày tôi mới về trường, không những cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu thốn, đời sống dân trí thấp mà đường sá đi lại cũng rất khó khăn. Ngày ấy, do chưa đủ phòng học nên thầy trò chúng tôi phải nhờ hết bên Trường THPT Quảng Đức. Anh chị em giáo viên thì đều nội trú, không về nhà mà ở luôn tại trường, bám trường bám lớp, nếu không chẳng thể quản lý được các em, chẳng thể duy trì sĩ số học sinh chứ đừng nói nâng cao chất lượng dạy học. Không có chỗ ở nên chúng tôi lấy luôn phòng làm việc làm phòng ở. Nghĩ lại, như mới ngày hôm qua…

- Theo chị, so với trước đây, sĩ số học sinh cũng như chất lượng học tập ở Trường PTDT bán trú hiện nay có những đổi thay như thế nào?

+ Thay đổi nhiều chứ. Từ chỗ điều kiện cơ sở hạ tầng yếu kém, đường sá giao thông đi lại khó khăn, tình trạng học sinh bỏ học và nghỉ học cách nhật thường xuyên diễn ra thì đến nay mọi thứ đã cơ bản ổn định. Hiện nay, có đến 140 em học sinh thuộc diện được hưởng chế độ ở nội trú với mức hỗ trợ 420.000 đồng/tháng. Ngoài ra, theo Nghị định 49 của Chính phủ thì mỗi học sinh còn được hỗ trợ thêm 70.000 đồng/tháng. Điều này cũng đã phần nào giúp đỡ các em ổn định cuộc sống, yên tâm đến trường nên tình trạng nghỉ học cách nhật cũng được hạn chế, chất lượng giáo dục cũng ngày càng được nâng cao. Nhiều năm nay, Trường tôi đã có học sinh tham gia học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh đạt giải. Thêm nữa, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, sau khi chuyển đổi sang loại hình trường PTDT bán trú, Trường chúng tôi cũng đã được đầu tư xây dựng rất nhiều. Hiện trường có tất cả 8 phòng học phục vụ cho 10 lớp, một nhà công vụ, 1 nhà hiệu bộ với tổng mức đầu tư trên 8 tỷ đồng. Thiết bị học tập cũng đang trang bị 7 máy tính để bàn, 1 máy tính xách tay, 5 đầu chiếu với đầy đủ dụng cụ học tập. Hơn nữa, khuôn viên trường đã được trồng thêm 26 cây bóng mát và 11 chiếc ghế đá… Có thể nói đây là sự quan tâm rất lớn, bởi hiếm có một trường nào ở khu vực vùng miền núi khó khăn có được khuôn viên trường khang trang như ở đây…

- Xin cảm ơn chị về cuộc trò chuyện này và xin chúc mừng chị cùng các đồng nghiệp ở Trường PTDT bán trú Quảng Đức nhân ngày 20-11…

Ngô Dịu (Thực hiện)

,
.
.
.
.
.