.

Nước sinh hoạt nông thôn: Khó về đích khi thiếu trợ lực

Cập nhật lúc 05:40, Thứ Bảy, 04/08/2012 (GMT+7)

Tại hội nghị giao ban trực tuyến với 63 tỉnh, thành phố về triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vừa qua tất cả các địa phương cũng như Ban chỉ đạo chương trình đều chung nhận xét mục tiêu 90% cư dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh sẽ khó đạt được. Bởi do những bất cập trong cơ chế, thiếu vốn đầu tư, khó khăn trong xã hội hoá và sự thiếu quan tâm của chính quyền các cấp.

Lắp đặt ống dẫn nước tại xã Đại Dực (Tiên Yên).
Lắp đặt ống dẫn nước tại xã Đại Dực (Tiên Yên).

2,5% - mục tiêu phấn đấu đã khó

Nước sạch cho cư dân vùng nông thôn là một trong những mục tiêu phải đạt được của chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Bởi mục tiêu này mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, không chỉ góp phần cải thiện điều kiện sống, nâng cao nhận thức của người dân khu vực nông thôn mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực phát triển chậm này.

Báo cáo đánh giá của Sở NN&PTNT cho biết, tính đến tháng 6-2012 tỷ lệ số dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh của toàn tỉnh đạt 87,5%. Như vậy trong 6 tháng còn lại của năm sẽ phải phấn đấu đạt thêm tỷ lệ 2,5% nữa. Con số này không cao nhưng lại đang rất khó do thiếu nguồn lực, một số công trình chưa hoàn thành, chậm được triển khai, bố trí vốn đầu tư. Mặc dù trong những năm gần đây nhận thức về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn của người dân có sự thay đổi đáng kể, nhiều nơi nhân dân tự đầu tư và gìn giữ tốt các công trình cấp nước, tích cực tham gia bảo vệ nguồn nước. Một số địa phương cũng đã huy động được tinh thần xã hội hoá của các doanh nghiệp cùng vào cuộc tham gia đầu tư xây dựng, quản lý vận hành các công trình cấp nước khu vực nông thôn. Tỉnh cũng đã có cơ chế huy động riêng như giao cho Công ty TNHH một thành viên kinh doanh nước sạch Quảng Ninh triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước cho các xã, phường nằm trong khu vực Hà Bắc của TX Quảng Yên. Đặc biệt theo kế hoạch trong năm 2012 này 29 xã của tỉnh sẽ tham gia vào Dự án cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2, trong đó: TX Quảng Yên 5 xã, Đông Triều 13 xã, Hoành Bồ 2, Vân Đồn 2, Tiên Yên 5, Đầm Hà 1, Hải Hà 1. Tỉnh cũng đã xác định nguồn lực từ chương trình xây dựng nông thôn mới sẽ tập trung cho đầu tư các công trình cấp nước ở các địa phương khu vực miền Đông, còn khu vực miền Tây sẽ tham gia thực hiện theo các dự án tài trợ của các tổ chức Quốc tế.

Tuy nhiên, để có thể chạm được đích 90% cư dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh trong năm 2012 này, toàn tỉnh cần khoảng 80 tỷ đồng để đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung và phân tán, bởi theo tính toán của các cơ quan chuyên môn thì để đạt được tỷ lệ 1% cần đầu tư khoảng 20 tỷ đồng. Nguồn lực đã được tính toán khá rõ nhưng do việc bố trí để triển khai thực hiện mới chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu cần đầu tư. Đặc biệt từ đầu năm nay thực hiện phân cấp đầu tư, tỉnh đã chuyển nguồn về các địa phương tự cân đối, bố trí, tính toán nhu cầu đầu tư xây dựng, nhưng nhiều địa phương chưa thực sự quan tâm đến mục tiêu này nên việc bố trí rất hạn chế. Trong khi nguồn lực địa phương hạn chế, sự bố trí của ngân sách Trung ương cũng rất hạn hẹp, trong những giai đoạn trước trung bình mỗi năm ngân sách Trung ương dành từ 15-20 tỷ đồng hỗ trợ cho mỗi tỉnh, thành phố. Nhưng năm nay riêng Quảng Ninh mới được phân bổ trên 3 tỷ đồng để thực hiện 2 công trình chuyển tiếp là Trạm cấp nước Sông Khoai (Quảng Yên) và Yên Đức (Đông Triều). Để có thêm nguồn lực, hiện Sở NN&PTNT đang tích cực vận động để sớm được triển khai thực hiện dự án cấp nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2.

Ngân sách đầu tư đã hạn hẹp thì việc huy động xã hội hoá vào lĩnh vực này lại càng khó hơn. Bởi phần lớn dân cư sinh sống ở khu vực chưa có nước sạch hợp vệ sinh là những hộ có điều kiện kinh tế khó khăn, khả năng tham gia đóng góp hạn chế. Nhất là việc xây dựng các công trình cấp nước tập trung, công trình cấp nước nhỏ lẻ ở các xã vùng núi, xã hải đảo do dân số sinh sống thưa thớt suất đầu tư lớn vì vậy phần tham gia đóng góp của người dân cũng cao hơn mức đóng góp của khu vực đồng bằng nên càng khó hơn khi huy động sự tham gia của họ.

Giữ kết quả khó không kém

Để có thể chạm được đích 90% cư dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh trong năm 2012 này toàn tỉnh cần khoảng 80 tỷ đồng để đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung và phân tán.

Dù đến nay tỷ lệ cư dân nông thôn của toàn tỉnh được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đã được 87,5%, thế nhưng kết quả này lại không mang tính bền vững cũng bởi hàng loạt những nguyên nhân do cả chủ quan và khách quan tác động tới. Đồng chí Nguyễn Văn Vinh, Chủ tịch UBND TX Quảng Yên cho biết: Trong khi nguồn vốn bỏ ra để đầu tư cho các công trình cấp nước tập trung ở khu vực nông thôn rất lớn thì việc thu lại sau đầu tư gặp rất nhiều khó khăn. Cư dân nông thôn thu nhập thấp nhưng giá bán nước cao hơn rất nhiều so với khu vực đô thị thế nên nhiều hộ không sử dụng hoặc có sử dụng thì cũng rất tiết kiệm dẫn đến tình trạng dù đã giao cho các doanh nghiệp tham gia đấu thầu khai thác vận hành công trình nhưng cũng rơi vào tình trạng thu không đủ bù chi. Đó là chưa kể do tính đặc thù của các công trình nước sạch nông thôn là nhỏ lẻ, phân tán trong khi lại phải đảm bảo an toàn về chất lượng, số lượng nước nên việc quản lý vận hành, duy tu, bảo dưỡng các công trình này rất phức tạp và mang tính xã hội cao.

Cũng theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn thì số lượng và chất lượng nước cung cấp từ nhiều công trình cấp nước hiện đang bị giảm sút nên hàng năm sẽ có một số người đã được hưởng nước sạch sẽ trở thành người chưa được hưởng nước sạch. Thêm vào đó là việc giám sát và kiểm tra chất lượng nước chưa đúng quy định, đặc biệt là đối với các công trình cấp nước nhỏ lẻ. Quản lý bền vững công trình cấp nước và vệ sinh môi trường sau khi xây dựng còn yếu, mô hình quản lý công trình cấp nước tập trung hiện nay giao cho UBND các xã chưa thực sự hiệu quả, chưa có tổng kết, đánh giá tính phù hợp. Để đạt được mục tiêu 95% cư dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh vào năm 2015 và đảm bảo giữ được sự bền vững của tỷ lệ này các cơ quan chuyên môn cũng đã có tham mưu, đề xuất với tỉnh cần mở rộng thị trường nước sạch thông qua vốn vay ưu đãi của nhà nước và WB để đầu tư 15 nhà máy nước hoàn chỉnh thuộc huyện Đông Triều, Tiên Yên, Hải Hà, Đầm Hà và TX Quảng Yên, dành vốn ngân sách cho các vùng miền núi, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. Cùng với việc đầu tư về số lượng công trình cần đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng nước sạch.

Nước sạch nông thôn là một phần nhiệm vụ của chương trình xây dựng nông thôn mới bắt buộc phải đạt được, chính vì vậy Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, Chủ nhiệm chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã khẳng định Trung ương sẽ bổ sung thêm 478 tỷ đồng hỗ trợ cho các địa phương. Trợ lực này dù rất quan trọng nhưng để đạt được mục tiêu thực sự của việc cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống cho cư dân khu vực nông thôn thông qua cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh rất cần sự tham gia của nhiều nguồn lực khác.

Ngọc Lan

,
.
.
.
.
.