.

“Cung” và “cầu” lao động: Nhìn từ Sàn giao dịch việc làm Quảng Ninh

Cập nhật lúc 05:35, Thứ Ba, 27/03/2012 (GMT+7)

Sàn giao dịch việc làm thuộc Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh hiện nay là một trong nhiều kênh hiệu quả tham gia vào thị trường lao động trên địa bàn. Dẫu không thể chỉ căn cứ vào riêng nó để đánh giá nhưng từ hoạt động thực tế của sàn đã cho thấy một số vấn đề về “cung” - “cầu” lao động rất đáng lưu tâm cho việc định hướng nghề, lựa chọn và đào tạo nghề với các cơ sở đào tạo cũng như người học ở Quảng Ninh.

Trước hết là sự mất cân đối giữa nguồn “cung” và “cầu” lao động. Theo thống kê, năm 2011 vừa qua, thông qua 23 phiên giao dịch việc làm được mở ở hai điểm sàn TP Hạ Long và Móng Cái, 575 đơn vị, doanh nghiệp tham gia sàn có nhu cầu tuyển đến 11.504 vị trí làm việc nhưng chỉ có 5.083 lượt lao động (chiếm chưa đến 50% nhu cầu) tham gia các phiên giao dịch. Trong số đó, số lao động trúng sơ tuyển cũng chỉ chiếm hơn 50% với 2.668 người. Thêm nữa, năm nay, tính đến phiên giao dịch ngày 10-3, đã có 5 phiên được mở, 127 đơn vị, doanh nghiệp đã đăng ký tham gia tuyển 3.690 vị trí nhưng số lao động tham gia phỏng vấn trực tiếp tại các đơn vị cũng chỉ có 747 lượt người, trúng sơ tuyển là 350 người.

Người lao động tìm hiểu thông tin việc làm tại Sàn giao dịch việc làm TP Hạ Long. Ảnh: THU NGUYÊT
Người lao động tìm hiểu thông tin việc làm tại Sàn giao dịch việc làm TP Hạ Long. Ảnh: THU NGUYÊT

Như vậy là, “cầu” luôn vượt “cung”, điều này xảy ra ở hầu như tất cả các vị trí tuyển lao động, nhưng theo ông Vũ Thanh Liêm, Trưởng Phòng Tư vấn - Giới thiệu việc làm, Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh thì trong vòng 5 năm trở lại đây, xu hướng nguồn “cung” lao động phổ thông ngày càng thiếu trong khi tỷ lệ có bằng cấp lại tăng lên. Chỉ qua thống kê của 5 phiên giao dịch đầu năm nay cũng cho thấy, nhu cầu tuyển công nhân kỹ thuật và lao động phổ thông rất cao, gấp mấy lần so với nhu cầu tuyển lao động có trình độ khác. Đơn cử như, nếu như lao động trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp cần tuyển lần lượt là 361, 270 và 362 vị trí thì số công nhân kỹ thuật và lao động phổ thông cần tuyển lần lượt là 1.087 và 1.610 vị trí. Nhưng ngược lại, số lao động này lại tham gia và qua được sơ tuyển ít nhất. Cụ thể là lao động trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp trúng sơ tuyển là 108, 73 và 56 người thì số công nhân kỹ thuật và lao động phổ thông chỉ có 48 và 55 người. Hiện nay, tâm lý chọn việc, kén việc theo hướng không muốn làm những nghề lao động chân tay, lao động nặng nhọc đang khá phổ biến. Rõ ràng, Quảng Ninh cũng không nằm ngoài thực trạng chung này.

Nhưng ngược lại, với lao động có bằng cấp thì tồn tại một vấn đề khác, đó là sự khác biệt giữa năng lực làm việc thực tế và bằng cấp qua đào tạo. Ông Liêm cho biết là qua khảo sát “hậu” sàn cho thấy, 15 đến 25% tỷ lệ lao động sau khi được tiếp nhận đã bỏ việc với nhiều lý do cả khách quan lẫn chủ quan, không ít trong số đó chưa đáp ứng được thực tế công việc. Thậm chí, có doanh nghiệp còn nói rõ là không tiếp nhận lao động qua đào tạo từ đơn vị này, đơn vị kia vì kiểm chứng hiệu quả công việc khá nhiều lần đều không đạt yêu cầu. Đây là thách thức không nhỏ đặt ra cho các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh, bên cạnh việc đầu tư trang thiết bị dạy và học cũng cần chú trọng đến chất lượng chuyên môn của đội ngũ giảng dạy cũng như đầu vào của học sinh, sinh viên.

Bên cạnh đó, tỷ lệ chênh lệch lao động giữa các ngành nghề cũng là một vấn đề, như việc trội lên về số lao động chuyên ngành kế toán là một ví dụ đã dẫn đến thực trạng người thừa vẫn thừa, người thiếu vẫn thiếu. Đặc biệt thiếu là lao động được đào tạo thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên. Liên quan đến điều này, ông Liêm kể cho chúng tôi nghe về việc Công ty Cổ phần Viglacera Đông Triều phiên vừa rồi đã sơ tuyển được 2 lao động là kỹ sư hoá silicat. Rất mừng vì tuyển được đúng đối tượng đang cần nên lãnh đạo đơn vị cho biết, nếu hai người này về làm việc ở đơn vị, doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện tối đa cho họ để khắc phục khó khăn ban đầu... Rõ ràng là, đáp ứng đúng, trúng nhu cầu của doanh nghiệp, người lao động sẽ có rất nhiều thuận lợi. Quay trở lại vấn đề nói trên cho thấy, tỷ lệ lao động chênh lệch ở các ngành nghề đang là thực trạng chung của cả nước và với Quảng Ninh cũng vậy, chúng ta cần báo động về hướng đào tạo các ngành nghề, đồng thời, việc lựa chọn nghề theo học của lớp trẻ hiện nay cũng cần có sự định hướng tốt hơn, phù hợp với thực tế hơn...

Phan Hằng

,
.
.
.
.
.