.

Bác Hồ đặt tên cho tỉnh Quảng Ninh

Cập nhật lúc 07:27, Chủ Nhật, 26/10/2008 (GMT+7)
Tôi không rõ tên các tỉnh hợp nhất khác như Hải Hưng, Bắc Thái, Nghệ Tĩnh, Hoàng Liên Sơn, Nam Hà, Hà Tây... do ai đặt, nhưng riêng tên tỉnh Quảng Ninh thì chính xác do Bác Hồ đặt.

Tôi đã nghe đồng chí Hoàng Chính, Bí thư Tỉnh uỷ Hải Ninh, sau ngày hợp nhất là Chủ tịch tỉnh, nói kỹ về sự kiện này. Bác Vũ Đình Mai, nguyên Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Tỉnh đội trưởng Tỉnh Đội Quảng Ninh, trong những năm tháng ốm nặng rồi qua đời đã viết cho tôi ba lá thư ghi lại những điều cần lưu ý khi làm sử Quảng Ninh, trong đó có nhấn mạnh sự kiện Bác Hồ đặt tên cho tỉnh nhà. Khi biên soạn bộ sách Địa chí, tôi cũng đã tìm đọc kỹ biên bản và nghị quyết kỳ họp Hội đồng nhân dân đặc biệt, kỳ họp liên tịch giữa Hội đồng nhân dân hai địa phương (các văn bản này trong tập Văn kiện 1963 lưu giữ tại Phòng lưu trữ UBND tỉnh). Biên bản kỳ họp ghi rõ các ý kiến tranh luận về việc đặt tên tỉnh. Phía Hải Ninh đề nghị đặt tên tỉnh là Hải Đông với cái lý là tên này đã tồn tại suốt mấy trăm năm thời Lý - Trần. Phía Hồng Quảng có nhiều ý kiến khác nhau, nào là Quảng Yên, nào là An Quảng, Yên Quảng. Lại có ý kiến đề nghị là Hồng Hải, vừa có chữ Hồng của Hồng Quảng lại vừa có chữ Hải của Hải Ninh, nhiều tỉnh khác cũng thường đặt tên như vậy. Nhưng liền đó lại có ý kiến phản bác, Hồng Hải chẳng có nội dung gì, lại trùng với tên biển Hồng Hải. Thế là không nhất trí. Kết luận của Hội nghị là đề nghị Bộ Chính trị và Hồ Chủ tịch quyết định...


Bác Hồ thăm HTX Sáy Nguồn, xã Đoan Tĩnh, Móng Cái (19-2-1960). Ảnh: Tư liệu

Đồng chí Hoàng Chính kể rằng, trước khi đưa ra Quốc hội biểu quyết trong kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá II ngày 30-10-1963, Bác Hồ đã tham khảo ý kiến của Bộ Chính trị và Bác giải thích với đồng chí Hoàng Chính: Bác đặt tên tỉnh mới là “Quảng Ninh”; “Quảng” là rộng lớn, “Ninh” là yên ổn, bền vững. Quảng Ninh là một vùng yên ổn, rộng lớn. Bác cũng như các đồng chí trong Bộ Chính trị đều muốn Quảng Ninh - một vùng rộng lớn yên ổn, bền vững. Bác hỏi đồng chí Hoàng Chính: “Đó là nguyện vọng của đồng bào ta ở đó ngàn đời nay, có đúng thế không?”. Bác còn nói thêm: Bên nước bạn có Quảng Đông, Quảng Tây, bên ta có Quảng Ninh. Đôi bên cùng thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng chí Hoàng Chính nói với tôi: Càng ngẫm càng thấy ý tứ của Bác thật sâu sắc. Chữ Quảng Ninh cũng là lấy từ hai chữ cuối của Hồng Quảng và Hải Ninh, mà từ xưa các tên đều thể hiện ước mong được yên ổn làm ăn (nên mới có các tên Quảng Yên, Yên Bang, Tĩnh Yên, Vĩnh An...). Thật không có cái tên nào vừa đúng vừa hay như thế.

Từ ý kiến của Bác, đồng chí Nguyễn Thọ Chân - Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Khu uỷ Hồng Quảng, đã dễ dàng giải thích cho cán bộ trong khu nhất trí với chủ trương hợp nhất Hải Ninh - Hồng Quảng. Trước đó, không ít cán bộ Hồng Quảng nghe nói Hải Ninh nghèo, lạc hậu, đi lại rất khó khăn, hợp nhất sẽ phải đi công tác Hải Ninh rất cực. Bên phía Hải Ninh, những cán bộ quê ở các tỉnh đồng bằng thì phấn khởi, nhưng không ít cán bộ quê miền Đông lại e ngại, trước hết là phải di chuyển về thủ phủ Hòn Gai. Nhìn chung, sau khi Quốc hội có Nghị quyết nhất trí thông qua đề nghị của Hội đồng Chính phủ, hai địa phương đã khẩn trương tiến hành các bước hợp nhất. Sau gần hai tháng, mọi việc hoàn tất, từ ngày 1-1-1964, các con dấu cũ được thu hồi và các con dấu mới mang tên Quảng Ninh chính thức có hiệu lực. Sáng 1-1-1964 là buổi làm việc đầu tiên của các cơ quan tỉnh Quảng Ninh. Đồng chí Hoàng Chính, vị Chủ tịch đầu tiên của tỉnh Quảng Yên sau Cách mạng Tháng Tám, từ giữa năm 1946 được điều ra tăng cường cho Hải Ninh, với cương vị Bí thư Tỉnh uỷ (cũng có một thời gian là phái viên của Trung ương bên cạnh Tỉnh uỷ), nay trở về tỉnh Quảng Ninh với chức vụ Chủ tịch. Nhiều người bình luận: Khác với nhiều tỉnh, Hồng Quảng - Hải Ninh hợp nhất thật “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”.

,
.
.
.
.
.