Nhà sư - nhà cách mạng - nhà thơ Tú Gân

Chủ Nhật, 11/08/2019, 15:26 [GMT+7]
.
.

Nguyễn Kiên Tranh là tên thật của sư Tuệ, cán bộ tiền khởi nghĩa ở chiến khu Đông Triều. Nhưng ít người biết được rằng ông còn là một nhà thơ trong đó có nhiều bài thơ hay viết về vùng đất Đệ tứ Chiến khu.

Di ảnh sư Tuệ Nguyễn Kiên Tranh.
Di ảnh sư Tuệ Nguyễn Kiên Tranh.

Sư Tuệ sinh năm 1910, quê ở xã Tân Hưng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Là con một thày đồ nên thuở nhỏ, Nguyễn Kiên Tranh đã được học chữ Nho. Năm 16 tuổi, ông học nghề xếp chữ và làm thợ in ở Nam Định. Vì ủng hộ phong trào đấu tranh của công nhân ngành dệt nên bị bỏ tù 18 tháng. Sau khi ra tù, Nguyễn Kiên Tranh ra Vùng mỏ làm than ở khắp các mỏ Hà Lầm, Hòn Gai, Núi Béo, Mông Dương, Cẩm Phả, Uông Bí, Mạo Khê, An Biên… Sau đó, ông bị ốm nặng đành phải trở về đi tu ở chùa An Nông (Nam Trực, Nam Định) được thụ giới là sư bác. Sau một thời gian, ông lại đến tu ở chùa Nứa thuộc huyện Thanh Hà, Hải Dương, được phong là sư ông. Từ năm 1936 đến năm 1939, ông hoạt động ở nhiều nơi, trong đó có Tràng Bảng, Đông Triều. Năm 1940, Nguyễn Kiên Tranh bị thực dân Pháp bắt giam tại các nhà tù Bá Vân, chợ Chu (Thái Nguyên), Nghĩa Lộ (Yên Bái) và Hỏa Lò (Hà Nội) vì tội hoạt động cộng sản.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Nguyễn Kiên Tranh cùng các bạn tù đã vượt ngục về Nam Định hoạt động. Bị chính quyền theo dõi, ông trốn ra Thanh Hà (Hải Dương) tìm cách chắp mối liên lạc với các bạn tù chính trị, sau đó đến khu vực rừng Yên Tử xây dựng cơ sở. Trước đó ông đã mượn một chiếc áo cà sa mặc để dễ bề hoạt động vì biết ở Đông Triều thổ phỉ không giết hại các nhà sư. Ông còn mượn thẻ của sư anh ở chùa Đông Phan (Thanh Hà, Hải Dương) tên là Nguyễn Văn Tuệ từ đó người ta gọi ông là sư Tuệ. Trước khi đến Đông Triều, sư Tuệ còn đi gây dựng một số cơ sở mới ở Thủy Nguyên (Hải Phòng) và Kinh Môn (Hải Dương).

Tháng 4/1945, tướng Nguyễn Bình đã vào Đông Triều gặp sư Tuệ bàn kế hoạch hoạt động, chuẩn bị xây dựng chiến khu. Ngày 20/4/1945 sư Tuệ và sư cụ Võ Giác Thuyên đã thành lập đội vũ trang đầu tiên của Đông Triều. Sáng ngày 1/5/1945 tại làng Hổ Lao, sư Tuệ tuyên bố ra mắt đội du kích cách mạng quân. Ngày 6/6/1945, Nguyễn Bình, Sư Tuệ, Hải Thanh, Trần Cung, Nguyễn Văn Đài và Nguyễn Hữu Hiền đã quyết định sẽ khởi nghĩa vào ngày mồng 8/6 và đã được giữ bí mật đến giờ phút chót. Sau khởi nghĩa Đông Triều, sư Tuệ sang phối hợp giải phóng Thủy Nguyên, Kinh Môn. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoàn tục, kết hôn cùng một cô y tá ở Chiến khu Đông Triều sau đó đưa cả gia đình lên Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp.

Sư Tuệ (người ngồi) làm việc tại Chiến khu Đông Triều vào tháng 6/1945. Người đứng là y tá Lê Thị Nhuần sau này là vợ ông. Ảnh tư liệu của gia đình bà Kim Tuyên.
Sư Tuệ (người ngồi) làm việc tại Chiến khu Đông Triều vào tháng 6/1945. Người đứng là y tá Lê Thị Nhuần sau này là vợ ông. Ảnh tư liệu của gia đình bà Kim Tuyên.

Ngoài vai trò nhà sư, ông còn là tác giả của nhiều bài thơ, hồi ký về những năm tháng tù đày, hiện chưa sưu tầm đầy đủ. Ông làm thơ mọi lúc mọi nơi. Đi vận động các cụ già ở Đông Triều tham gia ủng hộ Việt Minh ông cũng làm thơ xướng họa với các cụ. Ông làm nhiều nghề để hoạt động cách mạng vừa để mưu sinh. Với nghề nào ông cũng có thơ để quảng cáo. Theo tác giả Lê Văn Ba trong "Nhà văn Việt Nam trong nhà tù quân xâm lược" (NXB Hội Nhà văn năm 2015) thì thơ viết về Chiến khu Đông Triều của sư Tuệ có hơn 100 bài tương đối đặc sắc. Kết giao thân thiết với Tú Mỡ nên ông lấy bút danh là Tú Gân, cái tên cứng cỏi gợi nhớ thời ông hoạt động cách mạng kiên cường tại Đông Triều. Ông còn thân thiết với nhà văn Ngô Tất Tố và họa sĩ Tạ Thúc Bình.

Theo bà Nguyễn Thị Kim Tuyên, con gái sư Tuệ thì ông còn có bút danh là Tú Sụn và hiện bà đã tập hợp di cảo của cha mình sáng tác từ năm 1935 để in 2 tập thơ. Trước đó bà đã xuất bản cuốn “Cha tôi” viết về người cha hoạt động cách mạng ở Đông Triều của mình.

Năm 1997, sư Tuệ qua đời, được Nhà nước truy tặng Huân chương Độc Lập hạng Ba. Và hiện chiếc áo cà sa ông mượn để mặc khi hoạt động cách mạng đã được lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Một con đường ở trung tâm TX Đông Triều được đặt tên Sư Tuệ để ghi nhớ công lao của ông với Đệ tứ Chiến khu.

Huỳnh Đăng

.
.
.
.
.
.
.
.