Văn hoá Hạ Long - Văn hoá biển tiền sử Việt Nam

Chủ Nhật, 05/01/2014, 14:10 [GMT+7]
.
.

Năm 1937-1938, các nhà khảo cổ M.Colani (Pháp) và G.J.Anderson (Thụy Điển) đã lần lượt phát hiện ra các dấu tích cư trú của người tiền sử ở trên và ven bờ Vịnh Hạ Long như Danh Do La, Tuần Châu, Cái Dăm...

Họ đã gọi đây là “Văn hoá Danh Do La” - tên đảo Ngọc Vừng thời Pháp để chỉ chung cho đặc trưng các di tích khảo cổ này. Sau khi hoà bình lập lại, các nhà khảo cổ Việt Nam đã phát hiện thêm nhiều di tích có đặc trưng tương đồng và đã dùng thuật ngữ “Văn hoá Hạ Long” thay cho “Văn hoá Danh Do La” của M.Colani. Cho đến nay, đã có khoảng gần 50 di tích “Văn hoá Hạ Long” được phát hiện trên các đảo của Vịnh Hạ Long cũng như dọc bờ biển từ Móng Cái đến Vân Đồn, với đặc trưng chung về loại hình - kỹ thuật chế tác công cụ đá và đồ gốm có niên đại từ 5.000-3.000 năm cách ngày nay.

Rìu, vòng đeo tay, hạt chuỗi bằng đá ngọc và tàn tích thức ăn của người cổ Hạ Long được các nhà khảo cổ tìm thấy tại hang Đông Trong (Vân Đồn), tháng 4-2009.
Rìu, vòng đeo tay, hạt chuỗi bằng đá ngọc và tàn tích thức ăn của người cổ Hạ Long được các nhà khảo cổ tìm thấy tại hang Đông Trong (Vân Đồn), tháng 4-2009.

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học về Văn hoá Hạ Long, vào khoảng 5.000-3.000 năm trước, người cổ Hạ Long cư trú chủ yếu trên các cồn cát, đượng cát, bãi triều cửa sông, ven biển, chỉ một số ít sống trong các hang động đá vôi. Họ sống thành những “làng” nhỏ, nhỏ hơn làng của cư dân cùng thời ở trung du và châu thổ Bắc Bộ. Phần lớn người cổ Hạ Long sống sát bờ biển, trên các đượng cát không cao lắm.

Nét văn hoá đặc trưng của người cổ Hạ Long chính là công cụ đá và đồ gốm. Đó là những chiếc rìu, bôn bằng đá “có vai, có nấc độc đáo với nhiều chất liệu, kích cỡ. Đặc biệt là nghề gốm và đồ gốm, trong đó gốm xốp thể hiện đặc trưng của miền biển Hạ Long. Các đồ gốm gia dụng đều được chế tác từ nguyên liệu là vỏ nhuyễn thể đập nát trộn cùng cát, đất; bên ngoài được trang trí hoa văn hình sóng nước -  mang đậm ảnh hưởng của biển.

Các nhà khảo cổ cho rằng với sự phát triển đỉnh cao của kỹ thuật chế tác công cụ đá, làm gốm, trồng cây lấy sợi và bằng tích luỹ kinh nghiệm sống trên biển, chắc hẳn người Hạ Long xưa đã sáng tạo ra nhiều phương tiện vận tải thuỷ để đánh bắt hải sản, trao đổi sản vật với các vùng miền khác. Bằng chứng là tại Hà Giang, các nhà khảo cổ đã tìm thấy rìu, bôn có vai, có nấc kiểu Hạ Long. Gốm xốp Hạ Long và cả những chiếc rìu có vai, có nấc và bàn mài rãnh “dấu Hạ Long” đã tìm thấy trong di tích Mả Đống - Gò Con Lợn (Phú Thọ); ở núi Hổ, núi Dê (Nam Định), ở Mán Bạc (Ninh Bình), ở Hoa Lộc (Thanh Hoá); xa xôi hơn là ở tận ven biển Phúc Kiến (Trung Quốc)… Điều này cho thấy tầm hoạt động, mối giao lưu văn hoá rộng mở, hấp dẫn và năng động của người cổ Hạ Long.

Thời đại Hùng Vương (khoảng 2.500-2.000 năm trước), dấu ấn Văn hoá Hạ Long tiếp tục ảnh hưởng tới các nền văn hoá cùng thời ở các vùng miền trung du Bắc Bộ, ven biển Thanh Hoá. Ngược lại, các nền văn hoá này cũng tác động không nhỏ đến Văn hoá Hạ Long, thể hiện qua các công cụ, đồ gốm phát hiện ở hang Bồ Chuyến (Đại Yên, TP Hạ Long), Đầu Rằm (Hoàng Tân, Quảng Yên). Có được những giao lưu, trao đổi ngang dọc với các trung tâm văn hoá lớn lúc đó - theo các nhà khảo cổ là nhờ cư dân cổ Văn hoá Hạ Long đã phát huy nội lực, đứng vững trên cơ tầng văn hoá biển, phát huy thế mạnh của cư dân sông nước và tranh thủ thành tựu của cư dân đồng bằng, cùng đóng góp xây dựng cho một văn minh Việt cổ.

Văn hoá Hạ Long - theo các nhà khảo cổ - về bản chất là một văn hoá biển, tồn tại và phát triển bao giờ cũng rất năng động trong các mối giao lưu, hội nhập và thích ứng văn hoá. Văn hoá Hạ Long là một trong 4 nền văn hoá biển tiền sử Việt Nam gồm: Hạ Long (Quảng Ninh), Hoa Lộc (Thanh Hoá), Bàu Chó (Quảng Bình), Xóm Cồn (Khánh Hoà), có vị trí hết sức quan trọng trong nền cảnh văn hoá tiền sử Việt Nam.

Đại Dương

.
.
.
.
.
.
.
.