.

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản hát then ở Quảng Ninh: Công việc bộn bề

Cập nhật lúc 03:05, Chủ Nhật, 31/03/2013 (GMT+7)

Hát Then là một loại hình văn hoá đặc sắc, tiêu biểu của đồng bào dân tộc Tày. Từ tháng 12-2012, hát Then đã được Bộ VH,TT&DL đưa vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Ở Quảng Ninh, hát Then tập trung nhiều nhất ở Bình Liêu. Tuy nhiên, công việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản hát Then ở đây hiện nay vẫn còn lắm bộn bề...

Biểu diễn hát Then tại Lễ hội đình Lục Nà năm 2013.
Biểu diễn hát Then tại Lễ hội đình Lục Nà năm 2013.

Đầu tiên phải nói đến việc lưu giữ, bảo tồn Then nghi lễ cổ. Hiện nay, do điều kiện kinh tế, nhận thức của lớp thanh niên trẻ, sự giao thoa của các yếu tố văn hoá tiên tiến, Then nghi lễ cổ được tổ chức trong cộng đồng người Tày ở các địa phương trên địa bàn huyện Bình Liêu đang dần mai một. Các nghi lễ Then có được tổ chức, song phần lớn ở quy mô nhỏ hoặc thực hiện rất giản lược. Để duy trì hát Then cổ, cần phải có cơ chế chính sách hợp lý đối với những nghệ nhân dân gian, khen thưởng và tôn vinh họ. Bên cạnh đó, tôn vinh các gia đình, dòng họ hát Then cũng cần được tiến hành tương tự như việc công nhận các gia đình văn hoá. Cần thực hiện chương trình thống kê về đội ngũ các nghệ nhân dựa trên các tiêu chí lứa tuổi, giới tính, trình độ, cấp bậc hành nghề v.v.. để có kế hoạch bảo tồn, phát huy cho phù hợp. Tiếp theo là vấn đề đội ngũ kế cận. Đáng buồn là hiện nay, số đông lớp trẻ không quan tâm nhiều đến Then. Nếu họ có quan tâm đến Then thì phần lớn là buộc phải nối nghiệp tổ tiên, một số lại quan tâm đến loại Then văn nghệ, học đàn Tính, hát Then vì nhu cầu giải trí. Muốn bảo tồn hát Then thì nhất định phải tìm ra đội ngũ trẻ say mê, có khả năng kế nghiệp tổ tiên, duy trì di sản truyền thống. Kể cả khi tìm được nghệ nhân, tìm được người học rồi nhưng câu chuyện truyền nghề vẫn còn rất dài. Nói về điều này, ông Vi Hồng Lâm, Trưởng Phòng Văn hoá - Thông tin huyện Bình Liêu, lý giải: “Việc vận động để các cụ nghệ nhân nhận học trò cũng rất phức tạp. Các cụ ưng thì nhận, không ưng thì cũng chịu chẳng thể nào lay chuyển được. Nhận rồi lại phải lẽo đẽo theo các cụ để chờ làm thủ tục bái sư. Khi nào thích hợp các cụ mới truyền nghề…”. Vì thế, lưu giữ vốn quý hát Then đang thực sự là một bài toán rất nan giải.

Việc làm quan trọng khác nữa là phải thay đổi nhận thức về hát Then. Trước đây, các hoạt động cúng lễ, diễn xướng Then theo nghi lễ có lúc bị coi là mê tín, bị cấm đoán. Vì vậy, bây giờ chúng ta cần có thái độ tế nhị hơn khi giải quyết những vẫn đề liên quan đến nghề nghiệp các nghệ nhân của các thầy Then, thầy cúng để qua đó giúp họ cởi mở, tự tin hơn. Bên cạnh những mặt tích cực, Then nghi lễ vẫn còn tồn tại những mặt trái, những hạn chế. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy ở đây cần được thực hiện trên cơ sở phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tiêu cực trong các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng. Cần hướng dẫn các nghệ nhân Then loại bỏ bớt một số nội dung hành lễ không còn phù hợp với cuộc sống hiện đại, như: than thở số phận con người do trời định đoạt, ca ngợi việc cúng nạp lễ lạt để lấy chức, thăng chức v.v.. Việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật diễn xướng Then nghi lễ phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyện vọng, phong tục, tập quán của người dân. Vì thế, đối với những hủ tục lạc hậu, cần phân tích hoặc tạo dư luận chung để nhân dân tự nhận thức loại bỏ, tránh áp đặt.Về góc độ quản lý nhà nước, từ năm 2006 đến nay, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã có nhiều đề tài, dự án nhằm bảo tồn, phát huy Then nghi lễ như: Dự án “Phục dựng Lễ hội đình Lục Nà” (năm 2006); Đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân gian tộc người Tày ở Quảng Ninh” (năm 2008); Dự án “Sưu tầm, bảo tồn Then cổ người Tày huyện Bình Liêu” (năm 2009). Ngoài ra, Sở còn hỗ trợ kinh phí, trang phục, đạo cụ để các CLB Then ở Bình Liêu được duy trì, phát triển. Nhờ sự quan tâm ấy, hàng loạt CLB hát Then được ra mắt trong thời gian gần đây, như: CLB hát Then xã Tình Húc, CLB hát Then xã Vô Ngại, CLB Giai điệu quê hương xã Hoành Mô, CLB hát Then xã Ngọc Hồi v.v.. Nói về vấn đề này, ông Vi Hồng Lâm, cho biết: “Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ phối hợp với Viện Văn hoá, Hội VHDG Việt Nam cũng như Hội VNDG của tỉnh để sưu tầm phần lời của hát Then cũng như nghiên cứu trang phục trình diễn hát Then của đồng bào Tày. Bên cạnh đó, không gian diễn xướng hát Then sẽ được gắn liền với tuyến du lịch biên giới, du lịch văn hoá và không gian hát Soóng cọ”. Thêm nữa, để bảo tồn di sản hát Then, cũng cần phải đẩy mạnh công tác sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu diễn xướng Then nghi lễ ở các địa phương. Hiện nay, công việc này còn manh mún chưa có sự phối hợp, kết hợp giữa các cá nhân và cơ quan liên quan như: các hội nghề nghiệp, các CLB, các cơ quan nghiên cứu văn hoá văn nghệ dân gian, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, các nhà xuất bản v.v..

Then là hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng không những đáp ứng được nhu cầu tâm linh mà còn cả nhu cầu thưởng thức văn nghệ của nhân dân. Bảo tồn không gian nghệ thuật diễn xướng Then là góp phần thiết thực vào bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ hội nhập kinh tế và giao lưu văn hoá quốc tế nhằm mục tiêu phát triển bền vững. Muốn vậy, những vấn đề đặt ra của việc bảo tồn di sản hát Then cần được các cơ quan chức năng chung tay tháo gỡ từng bước.

Hải Dương

,
.
.
.
.
.