.

Gốm, sứ Quảng Ninh: Tự hào nét riêng truyền thống

Cập nhật lúc 05:27, Thứ Ba, 29/11/2011 (GMT+7)

Quảng Ninh là vùng đất được thiên nhiên phú cho nhiều điều kiện thuận lợi để sản xuất đồ gốm sứ, đất nung. Đó là đất sét, nguồn nguyên liệu chính có số lượng lớn, chất lượng tốt ở nhiều địa phương từ Móng Cái, Hải Hà, Hạ Long, Yên Hưng, Uông Bí đến Đông Triều; đá cao lanh, cát thuỷ tinh, đá vôi để tạo men cũng có ở nhiều nơi trong tỉnh. Bên cạnh đó, củi đốt lò nung cũng rất đa dạng; trong đó, có những loại cây như cây thanh hao có dầu, khí đốt tạo ra được nhiệt độ cao và khói dầu để chuyển hoá chất đất của sản phẩm gốm, sứ.

Chiếc bình gốm Hoàng Tân - đã được lập hồ sơ khoa học đề nghị công nhận bảo vật quốc gia.
Chiếc bình gốm Hoàng Tân - đã được lập hồ sơ khoa học đề nghị công nhận bảo vật quốc gia.

Đồ gốm Quảng Ninh ra đời từ cách đây khoảng 5.000 năm, bắt đầu từ văn hoá Hạ Long thuộc hậu kì đá mới đến ngày nay. Ở giai đoạn này, vùng Cái Bèo - Hạ Long là một trong những trung tâm gốm sớm của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á với đặc trưng riêng là gốm xốp, xương gốm pha vụn vỏ nhuyễn thể, hoa văn đắp nổi hình chữ S, hình sóng nước, lá mầm, chân đế cao trang trí trổ lỗ. Hoa văn ấn lưng sò, miệng sò chủ yếu được trang trí trên thân, miệng gốm rất đẹp. Các loại hoa văn này, đặc biệt là hoa văn hình sóng nước và chữ S thể hiện đậm nét tính chất văn hoá biển của cư dân Hạ Long xa xưa. Kỹ thuật làm gốm của cư dân Hạ Long đã phát triển đến đỉnh cao với phương pháp tạo dáng bằng bàn xoay kết hợp với phương pháp dùng bàn đập và dải cuộn. Các loại hình đồ gốm giai đoạn này rất phong phú với các chủng loại đồ đựng như vò, âu, bình, bát, lọ, khay...

Tiếp nối truyền thống đó, cư dân Việt cổ của thời đại kim khí ở Quảng Ninh xưa đã phát triển các loại gốm chắc như gốm Bồ Chuyến, gốm Đầu Rằm (Hoàng Tân), gốm Hòn Hai - Cô Tiên với các loại hình sản phẩm phong phú, được trang trí bằng nhiều loại hình hoa văn độc đáo, gồm các hoa văn kỷ hà như: Đường chỉ dài, đường chấm dải, song song, gập khúc, chữ V lồng, hình tam giác, khuông nhạc, hình tròn, hình lá cây... và đặc biệt là hình chữ S. Thủ pháp đối xứng luôn được các nghệ nhân gốm sử dụng biến hoá để tạo ra nhiều loại hoa văn cầu kỳ, phức tạp và đầy biểu cảm về tự nhiên và con người. Tiêu biểu cho gốm giai đoạn này là chiếc bình gốm Hoàng Tân, hiện đã được lập hồ sơ khoa học đề nghị công nhận bảo vật quốc gia về gốm tiền sử Việt Nam.

Kế thừa và phát huy những kinh nghiệm quý, bản sắc độc đáo của gốm tiền sử, qua hoạt động giao lưu và tiếp thu các kỹ thuật gốm tiên tiến của các vùng văn hoá lân cận, gốm lịch sử Quảng Ninh đã có bước phát triển trong suốt 10 thế kỷ với các giai đoạn chủ yếu là thế kỷ I-III, IV-VI và VII-IX. Ở hai giai đoạn đầu, gốm và đất nung vùng Đông Triều, Uông Bí, Yên Hưng và Vân Đồn đã có sự phát triển mạnh mẽ, là một trung tâm gốm lớn hàng đầu Việt Nam. Lúc này, gốm Quảng Ninh chia thành hai nhánh rõ rệt là gốm gia dụng và đất nung xây dựng với kỹ thuật chế tác đạt đến trình độ cao, một số sản phẩm như tước chân cao, bát, vò nhỏ, chân đèn giai đoạn IV-VI đã xuất hiện lớp men sơ khai, men chảy giọt.

Phát hiện rất quan trọng về lò gốm tại Tuần Châu còn chứng tỏ Quảng Ninh là một trung tâm gốm lớn giai đoạn Đại La (thế kỷ VII-IX). Đồ gốm ở đây đã có sự phát triển nhảy vọt về chất lượng với kỹ thuật gốm sành xốp làm từ đất sét trắng, được pha thêm chất chảy như thạch anh làm tăng độ bám dính, nung với nhiệt độ 1.100-1.200 độ C. Đặc biệt, những nghệ nhân nơi đây đã phát minh ra men ngọc, một loại men đỉnh cao trong lịch sử gốm sứ Việt Nam và thế giới. Loại hình sản phẩm của lò Tuần Châu không nhiều nhưng hầu hết là sản phẩm có giá trị cao như bình, vò, bát, đĩa, khay lớn. Đồ gốm Tuần Châu đã được trao đổi trên nhiều địa bàn khu vực phía Bắc khi đó và nhiều khả năng những sản phẩm này đã được xuất khẩu trên con đường tơ lụa trên biển giai đoạn này. Cùng với gốm sứ, đất nung có sự phát triển mạnh mẽ do nhu cầu xây dựng các thiết chế tín ngưỡng tâm linh của đạo Phật như các loại gạch trang trí, gạch xây dựng, gạch lát nền, ngói mũi hài, ngói ống, lá đề, tượng uyên ương, tượng hạc, tượng rồng...

Năm 1149, thương cảng Vân Đồn thành lập đã tạo ra một bước thúc đẩy mới cho gốm sứ Quảng Ninh. Việc trao đổi gốm sứ của Việt Nam và nước ngoài ở Vân Đồn đã tạo ra cơ hội cho sự học tập, tiếp thu các kỹ thuật chế tác gốm sứ mới. Trong thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, gốm Vạn Ninh (Móng Cái) đã trở thành một trung tâm gốm sứ Việt Nam. Sản phẩm của dòng gốm sứ Móng Cái rất đa dạng, trong đó nổi bật các sản phẩm men trắng hoa lam cao cấp và đồ sành có kích thước lớn phục vụ sản xuất, đời sống như chum, ang lớn đựng được 200-300 lít, chậu, thống lớn với đường kính 1m… đây là dòng gốm nặng lửa nhất của Việt Nam trong thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Sau năm 1954, gốm Móng Cái tiếp tục phát triển và trở thành 1 trong 2 trung tâm sứ lớn nhất miền Bắc (cùng với Hải Dương). Hiện nay gốm Đông Triều đang được tiếp tục phát triển trên cơ sở kỹ thuật truyền thống địa phương và sự chuyển giao kỹ thuật của gốm Móng Cái.

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đến nay dòng gốm men nặng lửa đặc trưng ấy vẫn được gìn giữ và duy trì ở nhiều cơ sở như: Công ty Sứ Đông Triều, HTX Đông Thành… Đáng nói là các sản phẩm đã đạt đến trình độ tinh xảo, phong phú; một số đồ gia dụng đã tạo được thương hiệu như: Chậu hoa, choé, lọ, bình men trắng hoa lam… Tuy nhiên, dòng gốm men trắng hoa lam nặng lửa này đang có nguy cơ bị mai một, rất cần được khôi phục và gìn giữ.

Trần Trọng Hà (Bảo tàng Quảng Ninh)

,
.
.
.
.
.