Ngăn chặn than trái phép: Những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ
Năm 2011, Công an tỉnh đã bắt giữ 1.389 vụ kinh doanh, vận chuyển, tập kết, triệt phá 1.163 lượt lò, điểm khai thác than trái phép, tịch thu 40.474 tấn than; phá dỡ 139 lán trại, trục xuất hơn 300 lượt người từ các địa phương khác đến khai thác, thu gom than trái phép. Trong số này đã lập hồ sơ xử lý 1.137 vụ, 1.167 đối tượng, nhưng hầu hết là xử lý hành chính (1.127 vụ, 1.115 đối tượng), chỉ khởi tố được 10 vụ, 52 bị can. Thực tế này đã khiến dư luận cho rằng cơ quan quản lý nhà nước nói chung, công an nói riêng không kiên quyết xử lý, thậm chí dung túng, bao che cho đối tượng khai thác than trái phép(?). Tìm hiểu về vấn đề này, các ngành chức năng cho biết: Hiện việc xử lý than trái phép trên địa bàn gặp rất nhiều bất cập về cơ chế, chính sách và quy định của pháp luật.
Theo Thông tư số 04/2007 của Bộ Công Thương “Hướng dẫn điều kiện kinh doanh than”, thì thương nhân kinh doanh than phải “sở hữu hoặc thuê địa điểm kinh doanh, phương tiện vận tải, phương tiện bốc rót, kho bãi, bến cảng, phương tiện cân đo...”. Nghị định số 59/2006 của Chính phủ “Quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện”, thì quy định than mỏ thuộc loại hàng hoá kinh doanh có điều kiện không cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Điều này đã dẫn đến việc hiểu không đúng về điều kiện chế biến, kinh doanh than mỏ; công tác quản lý nhà nước trong việc cấp phép chế biến, kinh doanh than bị buông lỏng, cấp phép một cách tràn lan (bất cứ doanh nghiệp nào xin đăng ký ngành nghề kinh doanh than mỏ là được cấp phép, dù không đủ điều kiện). Đây chính là kẽ hở để các cá nhân và doanh nghiệp lợi dụng mua bán hoá đơn giá trị gia tăng, hợp pháp hoá nguồn than trái phép, gây nhiều phức tạp trong kinh doanh than thời gian qua.
![]() |
| Công an TP Uông Bí thu giữ một số súng, đạn tại công trường Công ty Vietmindo Uông Bí trong đợt ra quân đấu tranh triệt phá than trái phép đầu năm 2011. |
Chế tài xử lý hình sự đối với hành vi khai thác, vận chuyển, kinh doanh than trái phép còn thiếu, không phù hợp với thực tiễn, gây rất nhiều khó khăn cho các lực lượng chức năng. Đó là, hầu hết ô tô vận chuyển than, máy móc, thiết bị khai thác than trái phép không phải là tài sản của người trực tiếp vi phạm, họ chỉ là người làm thuê; do vậy không thể tịch thu phương tiện (quy định tại mục 2, Điều 17, Pháp lệnh số 44/2002, ngày 2-7-2002 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội “Về việc xử lý vi phạm hành chính” và Bộ luật Dân sự năm 2005). Đối với hành vi vận chuyển với số lượng lớn (chủ yếu trên tuyến đường thuỷ), nếu không chứng minh được yếu tố qua biên giới, sẽ không xử lý được về hình sự (vì đều có hoá đơn chứng từ tiêu thụ nội địa, nên bắt giữ trong nội địa không xử lý được). Đối với hành vi khai thác, trừ gây chết người, phải có gây hậu quả nghiêm trọng trở lên mới bị xử lý hình sự; nhưng đến nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể “thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng trong khai thác than?”. Đối với việc xử lý các tang vật, phương tiện liên quan đến than trái phép phải tuân thủ rất nhiều các quy định (Bộ luật Tố tụng hình sự; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 77/2007/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 150/2004/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản; Nghị định 06/2008/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại)...
Chính những khó khăn, vướng mắc, bất cập nêu trên, mà trong năm 2011, dù lực lượng công an đã tạm giữ nhiều phương tiện ô tô, tàu thuyền máy xúc..., nhưng do hầu hết đối tượng khai thác than trái phép khai thuê, mượn (?), nên đa số phải xử lý trả lại cho chủ sở hữu.
Để có căn cứ thực hiện tốt công tác phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm, vừa qua các ngành Công an, TAND, Viện KSND tỉnh đã có Thông báo liên ngành số 02 “Về một số biện pháp giải quyết khó khăn vướng mắc trong phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm”. Theo đó, trong khi chờ hướng dẫn của liên ngành cấp trên, Công an, TAND, Viện KSND tỉnh tạm thời thống nhất vận dụng Thông tư liên tịch số 02/2001 của TAND Tối cao, Viện KSND Tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp “về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật Hình sự năm 1999”. Cụ thể, nếu gây thiệt hại về tính mạng tài sản, thì áp dụng quy định tại tiết 3.4 Mục I của Thông tư để xử lý. Trong đó, thiệt hại về tài sản được xác định có thể là trị giá tài nguyên đã khai thác hoặc tài sản người khác bị hư hỏng do hành vi đó gây ra... Ngoài ra có thể xác định hậu quả phi vật chất, như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về môi trường, ANTT, an toàn xã hội... Trong đó, sẽ tuỳ vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ hậu quả gây ra.
Tuấn Hương






