.

Những giải pháp cần thiết cho xây dựng nông thôn mới ở Quảng Ninh

Cập nhật lúc 04:14, Thứ Tư, 24/10/2012 (GMT+7)

Quảng Ninh là một tỉnh được ví như nước Việt Nam thu nhỏ, có đồng bằng, miền núi, biên giới, hải đảo; Có tốc độ đô thị hoá cao. Bên cạnh những địa bàn thuận lợi Quảng Ninh cũng còn không ít những địa bàn khó khăn. Tỉnh đã xác định xây dựng nông thôn mới không phải chạy theo phong trào mà bằng nội lực và quyết tâm chính trị, có cơ sở lý luận và thực tiễn.

Trước tiên, đối với tiêu chí để đạt xã nông thôn mới, thực tiễn qua hai năm chỉ đạo ở Quảng Ninh cho thấy Bộ tiêu chí quốc gia chỉ là cơ sở để vận dụng chứ không thể áp dụng máy móc nhất là các tiêu chí định tính, hoặc định lượng bằng phương pháp bình quân gia quyền. Ở tỉnh có nhiều xã đạt tiêu chí về tỷ lệ hộ dân được dùng nước hợp vệ sinh, số hộ dùng điện, số người dân có bảo hiểm y tế... cao hơn so với yêu cầu của bộ tiêu chí quốc gia nhưng chúng ta vẫn không dừng ở đó mà vẫn phấn đấu đạt mục tiêu cao hơn không ngoài mục đích làm cho người dân nông thôn Quảng Ninh có cuộc sống tốt hơn nữa. Chính vì vậy, cần nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận của mô hình nông thôn mới; nghiên cứu, khảo sát các mô hình tổ chức xã hội nông thôn Quảng Ninh; những bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình xây dựng nông thôn mới thời gian qua. Từ đó, đưa ra những luận cứ khoa học để xác định và hoàn thiện mô hình nông thôn mới của Quảng Ninh; điều chỉnh phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình xây dựng và phát triển nông thôn mới đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 và những năm tiếp theo cho phù hợp. Các xã đảo cũng phải xây dựng bộ chỉ tiêu khác với các xã trên đất liền.

Trường THCS xã Bản Sen (Vân Đồn) được đầu tư từ nguồn vốn thực hiện chương trình xây dựng NTM và ngân sách tỉnh đã và đang hoàn thiện, góp phần đổi thay diện mạo xã đảo. Ảnh: TRẦN MINH
Trường THCS xã Bản Sen (Vân Đồn) được đầu tư từ nguồn vốn thực hiện chương trình xây dựng NTM và ngân sách tỉnh đã và đang hoàn thiện, góp phần đổi thay diện mạo xã đảo. Ảnh: TRẦN MINH

Thứ hai, qua thực tiễn triển khai thấy hiện nay các chính sách phục vụ cho chương trình xây dựng nông thôn mới còn thiếu hoặc nếu có thì cũng chưa hoàn thiện. Vì vậy các sở, ngành cần nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách xây dựng nông thôn mới, bao gồm: Cơ chế, chính sách tích tụ đất đai sản xuất nông nghiệp; phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá; công nghiệp hỗ trợ cho nông nghiệp; phát triển nông thôn mới bền vững; huy động các nguồn lực xã hội, doanh nghiệp, nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới.

Nuôi chim bồ câu Pháp - Mô hình chăn nuôi mới phát triển ở thôn Tân Viên I, xã Xuân Sơn (Đông Triều). Ảnh: THANH TÙNG
Nuôi chim bồ câu Pháp - Mô hình chăn nuôi mới phát triển ở thôn Tân Viên I, xã Xuân Sơn (Đông Triều). Ảnh: THANH TÙNG

Thứ ba, tỉnh đang chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, từ phát triển “nóng” sang phát triển “bền vững”. Vì vậy, rất cần nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khoa học và công nghệ để xây dựng nông thôn mới, bao gồm: các giải pháp quy hoạch, kiến trúc, xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường cảnh quan nông thôn mới ở cả ba vùng: xã đồng bằng, xã miền núi, xã đảo. Các giải pháp chuyển đổi và tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế, xã hội nông thôn; bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của nông thôn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để khi tỉnh trở thành một tỉnh công nghiệp thì vẫn giữ được các giá trị văn hoá truyền thống.

Thứ tư, cần xây dựng một số mô hình trình diễn về nông thôn mới trên cơ sở ứng dụng các thành tựu, giải pháp khoa học và công nghệ, bao gồm: Mô hình tổ chức xã hội nông thôn mới; quy hoạch, kiến trúc nông thôn mới; nông nghiệp xanh; bảo quản, chế biến nông sản và tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá; ứng dụng công nghệ tưới tiêu kết hợp với các biện pháp canh tác nông nghiệp để tiết kiệm nước và bảo vệ môi trường; sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao kết hợp với cơ giới hoá nông nghiệp;  thí điểm áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù trong đầu tư xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng nông thôn mới; quản lý môi trường nông thôn.

Thứ năm, xây dựng nội dung và tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực quản lý chương trình, nắm bắt, ứng dụng khoa học và công nghệ cho các đối tượng có liên quan đến việc xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chuyển giao công nghệ, nông dân, doanh nghiệp và cán bộ quản lý cấp xã, cấp huyện. Cần nghiên cứu đưa nội dung xây dựng nông thôn mới vào thành một học phần trong chương trình đào tạo cán bộ cấp xã, huyện của hệ thống các trường chính trị cấp tỉnh, cấp huyện và Trường đào tạo cán bộ Đoàn Đội của tỉnh.

Thứ sáu, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về nông thôn mới, bao gồm: Bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện hằng năm của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Bộ tiêu chí phân bổ vốn theo hạng mức được phê duyệt để xây dựng nông thôn mới; phương pháp đánh giá nội dung, hiệu quả các dự án xây dựng nông thôn mới; hệ thống dữ liệu cập nhật về tình hình, tiến độ triển khai Chương trình.

Trương Công Ngàn (Ban Xây dựng NTM tỉnh)

,
.
.
.
.
.