Khai thác thuỷ sản năm 2011: Sản lượng cao, doanh thu thấp
Theo báo cáo của Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Quảng Ninh, ước tính sản lượng thuỷ sản năm nay sẽ đạt 52.526 tấn, trong đó, tăng 11,8% so với kế hoạch năm. Tuy nhiên, cũng theo đánh giá của ngành chức năng, năm nay, hoạt động khai thác thuỷ sản của bà con ngư dân đã gặp không ít khó khăn. Đó là, giá xăng dầu, ngư cụ tăng cao trong khi giá sản phẩm thuỷ sản không tăng, bấp bênh, thậm chí có thời điểm xuống giá nghiêm trọng, ảnh hưởng tới hiệu quả, doanh thu của nghề khai thác thuỷ sản.
![]() |
| Ngư dân Vân Đồn chuẩn bị ngư cụ trước khi ra khơi. |
Trong số 52.526 tấn thuỷ sản khai thác thì sản lượng cá là 33.210 tấn; tôm 5.758 tấn; mực 3,556 tấn và hơn 3.000 tấn nhuyễn thể. Nghề khai thác sứa tại các địa phương ven biển của tỉnh phát triển mạnh, mùa sứa kéo dài từ tháng 2 đến tháng 6, các tàu cá vùng bờ tập trung đi khai thác sứa đã đem lại hiệu quả kinh tế rất cao, trung bình người lao động bán được 10.000-12.000 đồng/đầu sứa, thậm chí vào cuối vụ, giá một đầu sứa trên thị trường được các tư thương thu mua với giá hơn 30.000 đồng/đầu sứa.
Theo đánh giá của ngành chức năng, mặc dù sản lượng thuỷ sản khai thác năm nay vẫn giữ được sự ổn định, và thực hiện vượt kế hoạch năm song do phần lớn sản lượng cá đều được đánh bắt, khai thác ven bờ, chất lượng thấp, kéo theo doanh thu của các hoạt động khai thác không cao. Nguyên nhân là do thời tiết diễn biến phức tạp, bà con ngư dân phải chịu ảnh hưởng của những cơn bão, áp thấp nhiệt đới và liên tiếp có những đợt gió mùa Đông Bắc xuất hiện với thời gian dài dẫn đến thời gian bám biển của tàu thuyền giảm.
Cùng với đó, giá nhiên liệu trên thị trường trong năm có nhiều lần điều chỉnh tăng giá làm cho hoạt động khai thác hải sản đã khó khăn lại càng khó khăn thêm, đẩy chi phí sản xuất tăng lên rất nhiều. Nguồn lợi thuỷ sản ngày một suy giảm, nhất là vùng gần bờ và ngư trường truyền thống nhưng tại khu vực này mật độ tàu thuyền khai thác ngày một cao với nhiều loại nghề và phương thức khai thác khác nhau, một bộ phận không nhỏ ngư dân còn sử dụng phương pháp khai thác mang tính tận thu, huỷ diệt; dẫn đến nguồn lợi thuỷ sản cạn kiệt, không kịp phục hồi tái tạo.
Khi nguồn lợi thuỷ sản ven bờ bị khai thác quá mức, có nguy cơ cạn kiệt thì đội tàu công suất lớn, đủ mạnh để khai thác tuyến khơi lại quá ít và gặp không ít khó khăn. Hoạt động khai thác hải sản tại vùng lộng: Ngư trường khai thác chủ yếu tại khu vực phía Đông, Đông Nam Cô Tô, Đông, Nam Thượng, Hạ Mai đối tượng khai thác chính là các loại tôm rảo, ghẹ, mực, cá song, cá hồng với sản lượng cao, là đối tượng chính của nghề lưới kéo, lưới rê, câu vàng...
Tại ngư trường vùng khơi các nghề khai thác như câu vàng, lưới kéo, lưới rê, chài chụp kết hợp ánh sáng khai thác các đối tượng có giá trị kinh tế cao như cá song, cá dưa, cá hố (đao), cá dưa và các loại mực; nhóm loài cá nổi lớn và trung bình xuất hiện dày hơn mọi năm. Tuy nhiên, đội tàu này lại không nhiều, chỉ một số ít tàu công suất đủ mạnh để vươn ra khai thác tuyến khơi. Trong tổng số hơn 13.000 phương tiện tàu thuyền hoạt động khai thác thuỷ sản thì chỉ có hơn 160 tàu có công suất máy trên 90CV hoạt động khai thác tuyến khơi, song do giá xăng dầu, ngư cụ tăng cao, hậu cần nghề cá chưa đáp ứng được nhu cầu, một số chủ tàu bị thua lỗ phải dừng khai thác, hoặc chỉ khai thác cầm chừng.
Theo kế hoạch, năm 2011, toàn tỉnh khai thác 47.000 tấn thuỷ sản các loại, và đến nay bà con ngư dân đã khai thác được trên 52.000 tấn thuỷ sản. Để khai thác hải sản đạt hiệu quả cao, một số giải pháp được ngành chức năng đưa ra cho năm tiếp theo như sắp xếp tổ chức lại khai thác hải sản cho các nhóm tàu cá cụ thể; tổ chức lại sản xuất bằng việc nhân rộng các mô hình khai thác tiêu biểu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, kỹ thuật đánh bắt, bảo quản sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả cho người dân là những giải pháp quan trọng.
Hữu Việt

