.

Chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã: Vì sao khó nhân rộng

Cập nhật lúc 05:24, Thứ Bảy, 17/11/2012 (GMT+7)

Vài năm trở lại đây, phong trào phát triển chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã như lợn rừng, cầy hương, cá sấu, nhím, rắn... đang trở thành hướng đi mới cho ngành Chăn nuôi Quảng Ninh. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công bước đầu, mô hình này cũng đang gặp không ít khó khăn trở ngại.

Theo thống kê, hàng năm sản lượng thịt động vật có nguồn gốc hoang dã cung cấp ra ngoài thị trường khoảng 260 tấn thịt lợn rừng, 20 tấn thịt nhím và khoảng 2.600 nhím giống, 5.000 lợn giống. Ngoài ra còn có một số sản phẩm cao cấp khác như cầy hương, nhung hươu... Chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi mà còn góp phần làm giảm áp lực đối với việc săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên, bảo tồn nguồn lợi thiên nhiên. Đồng thời, chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã còn có tác động tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu giống vật nuôi, mở ra hướng làm ăn mới, vừa giúp người dân có nguồn thu nhập cao, vừa giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động nhàn rỗi ở địa phương, đồng thời cũng là nơi tham quan lý tưởng của nhiều người yêu thích động vật hoang dã. Tuy nhiên, tình hình chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã hiện nay đang có chiều hướng chậm lại do giá cả thị trường luôn biến động, chi phí đầu tư lớn, giá con giống cao trong khi giá thương phẩm lại giảm khiến người chăn nuôi e ngại, chưa mạnh dạn đầu tư.

Trang trại nuôi cá sấu của ông Đặng Văn Hoan, thôn 4 xã Quảng Sơn, huyện Hải Hà.
Trang trại nuôi cá sấu của ông Đặng Văn Hoan, thôn 4 xã Quảng Sơn, huyện Hải Hà.

Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Ba Chẽ, chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã đã được triển khai ở địa phương từ năm 2005 gồm 3 loại con chính là nhím, lợn rừng và cầy hương. Loài động vật đưa vào nuôi thử nghiệm đầu tiên là nhím với số lượng 18 con theo chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất của huyện. Sau khi đưa loài này vào nuôi thử nghiệm, người dân nhận thấy chăn nuôi nhím hoàn toàn thích nghi với điều kiện tự nhiên, khí hậu. Song do giá con giống cao, đồng thời đây cũng là vật nuôi mới nên bà con còn e ngại chưa dám mạnh dạn đầu tư để phát triển nhân rộng. Sau đó huyện đã có chương trình  hỗ trợ phát triển nhân rộng và xây dựng mô hình thí điểm hỗ trợ đầu tư nuôi nhím với quy mô 2-4 con/hộ. Sau vài năm chăn nuôi, các hộ nhận thấy loài vật này đem lại hiệu quả cao, thu nhập lớn nên đã tự đầu tư và phát triển. Tính đến năm 2011, toàn huyện có 257 con/59 hộ nhưng trong vòng một năm trở lại đây phong trào nuôi nhím ở huyện Ba Chẽ không còn phát triển rầm rộ như những năm trước nữa. Nguyên nhân chính là do thị thường nhím đã lắng xuống, con giống không xuất bán được, giá thành thấp nên ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người chăn nuôi. Cũng từ câu chuyện về nhím Ba Chẽ, còn nhớ năm 2003 huyện Hoành Bồ từ dự án FAO được hỗ trợ 64 con nhím giống. Những năm đầu làm ăn phát đạt, có thời điểm giá nhím tăng lên tới vài chục triệu đồng/đôi nhím giống. Do giá trị mang lại quá lớn, nhiều hộ gia đình đã ồ ạt chuyển sang nuôi nhím, từ 64 con mà đến nay số lượng nhím ở huyện Hoành Bồ đã lên tới trên 2.000 con. Trong khi thị trường tiêu thụ đang lắng xuống mà “nhà nhà nuôi nhím” đã khiến cho giá nhím giảm từ 50-70% và lúc này người dân lại đau đầu với bài toán “tìm đầu ra” cho nhím.

Trong danh mục của 10 loài động vật có nguồn gốc hoang dã đang được nuôi trên địa bàn toàn tỉnh, con vật có thị trường tiêu thụ ổn định và có số lượng lớn thứ 2 là lợn rừng với 3.165 con. Theo đánh giá của các địa phương, đây là mô hình đặc biệt phù hợp và hiệu quả đối với nông dân vùng đồng bào dân tộc, miền núi nhờ tận dụng được nhiều nguồn cung thức ăn sẵn có. Thu nhập từ chăn nuôi lợn rừng cao gấp 5-6 lần so với chăn nuôi truyền thống. Tuy nhiên, người dân vẫn chưa mạnh dạn đầu tư, một mặt do thiếu vốn đầu tư, mặt khác còn e ngại về thị trường tiêu thụ. Hay như mô hình nuôi dúi sinh sản, một trong nhưng động vật dễ nuôi với chi phí đầu tư thấp (chuồng trại, con giống), thức ăn rẻ, dễ kiếm, tốn ít diện tích, ít nhân công, vòng xoay vốn nhanh, ít rủi ro... nhưng theo thống kê của các huyện gửi về Sở NN&PTNT,  thì trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay mới có 22 con dúi. Nguyên nhân chính là do người dân chưa được trang bị kiến thức, kỹ thuật chăm sóc, cách phòng chữa bệnh nên số lượng dúi tiêu thụ trên thị trường đều do săn bắt từ tự nhiên.

Trao đổi với chúng tôi, anh Vũ Xuân Hoà, cán bộ phòng chăn nuôi, Sở NN&PTNT cho biết: “Nhiều mô hình chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã đang chết yểu do việc chăn nuôi của người dân còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ. Nhiều hộ gia đình tự tìm hiểu và đầu tư nuôi thử nghiệm, phương pháp chăn nuôi đơn giản, chưa phù hợp với điều kiện sinh thái, chưa chủ động nguồn thức ăn cho động vật nuôi, chưa có biện pháp phòng và chữa bệnh tích cực nên hiệu quả chưa cao. Nhận thức của người dân trong việc chuyển đổi giống vật nuôi còn nhiều hạn chế. Đồng thời, cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã còn chưa sát với thực tế. Khi triển khai nuôi thử nghiệm đều được hỗ trợ, nhưng khi nhân rộng mô hình, các hộ nông dân không còn được hỗ trợ thì mô hình không còn đạt hiệu quả (do chưa áp dụng đúng quy trình kỹ thuật). Trong khi đó, mối liên kết “4 nhà” còn lỏng lẻo, chưa tạo được sự đồng thuận, thống nhất để cùng khai thác các thế mạnh và cùng thụ hưởng những thành quả, lợi ích từ sự liên kết đem lại. Vì thế, nông dân phải tự tìm thị trường tiêu thụ, bị thương lái ép giá…”.

Như vậy có thể thấy, hiện có rất nhiều nguyên nhân đang trở thành “rào cản”  khiến cho nhiều mô hình chăn nuôi động vật hoang dã, trên địa bàn tỉnh khó nhân rộng và phát triển. Thiết nghĩ, các cấp, ngành và địa phương cần có sự vào cuộc tích cực hơn nữa, để tìm biện pháp tháo gỡ và có hướng triển khai cho phù hợp. Giúp cho việc chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã có hướng đi ổn định và thực sự trở thành hướng phát triển kinh tế hiệu quả cho người chăn nuôi.

Hoàng Nga

,
.
.
.
.
.