Hiệu quả từ sản xuất và sử dụng vật liệu không nung
Trong Quyết định số 269/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khi phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ninh có nhấn mạnh trong công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, cần đầu tư dây chuyền gạch không nung (GKN) để đảm bảo tỷ lệ 13% (năm 2010) và 30% vào năm 2020. Điều đó là bởi Quảng Ninh có nguồn tài nguyên phong phú để sản xuất vật liệu không nung (VLKN), là phế phẩm của các nhà máy điện, xi măng… Hơn nữa, việc sản xuất VLKN mang lại nhiều hiệu quả tích cực kinh tế và bảo vệ môi trường.
![]() |
| Sản phẩm gạch không nung do một doanh nghiệp ở xã Yên Thọ (Đông Triều) sản xuất. |
Tại TP Uông Bí, với lượng xỉ thải của nhà máy nhiệt điện, hàng năm ở đây sản xuất được từ 15 đến 20 triệu viên GKN, tương đương khoảng 45 đến 60 triệu viên gạch nung quy chuẩn. Từ nhu cầu dùng GKN của dân, gần đây, một số địa phương xuất hiện những cá nhân, tập thể đầu tư máy ép gạch không nung, công suất 2.000 viên/ca, tương đương 12.000 viên gạch quy chuẩn. Nguyên liệu sử dụng để làm VLKN là mạt đá và xi măng hoặc cát và xi măng, sản phẩm thường có cường độ chịu nén từ 50-70kg/cm2 (so với gạch thông từ 50-75kg/cm2), đủ điều kiện xây dựng các công trình có chất lượng. Hiện nay, ở tỉnh ta có đến 41 cơ sở khai thác đá xây dựng với công suất thiết kế trên 2,938 triệu m3 đá hàng năm. Ngoài ra, sản lượng đá mạt khoảng 5%, bằng 146.890m3, đủ để sản xuất 14,688 triệu viên GKN, về thể tích, tương đương 88,1 triệu viên gạch quy chuẩn. Hàng loạt nhà máy điện cung cấp lượng thải xỉ lớn ở Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả, Hoành Bồ, Đông Triều... đã và đang mở ra triển vọng lớn cho các sản phẩm VLKN phát triển.
Việc sản xuất VLKN đã góp phần sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nông nghiệp, tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường; tận dụng tối đa những nguồn phế thải của ngành công nghiệp. Dây chuyền sản xuất VLKN đầu tư không lớn, không quá phức tạp. Hàng năm tỉnh ta có khả năng sử dụng từ 15 đến 20 triệu tấn phế thải công nghiệp để sản xuất VLKN, tiết kiệm được khoảng 1.000ha đất nông nghiệp và hàng trăm ha dành chứa phế thải.
Sở Xây dựng đã có những hướng dẫn tạo điều kiện cho một số DN sản xuất VLXD tiếp cận và đầu tư dây chuyền công nghệ để đẩy nhanh sản xuất VLKN, bước đầu đã có kết quả khả quan. Tại Công ty CP Xây dựng và Phát triển đô thị miền Đông đã sản xuất 3 sản phẩm GKN là gạch bằng cát - xi măng thông dụng, gạch làm từ tro xỉ của Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả; gạch lát ngoài trời cao cấp TAZEZO đã được sử dụng để lát hàng nghìn m2 cho khu VH-TT của TX Cẩm Phả. GKN của Công ty có lợi thế nổi bật như cùng kích cỡ, giá bán rẻ hơn gạch nung; sức chịu nén tốt hơn gạch nung, đạt đến 101 kg/cm2 so với gạch thông 2 lỗ (gạch nung) từ 50 đến 75kg/cm2, độ chống thấm rất cao. Công ty CP Khai thác đá và Sản xuất vật liệu xây dựng đã đầu tư 10 tỷ đồng lắp đặt dây chuyền công nghệ sản xuất gạch bê tông xốp siêu nhẹ, (tỷ trọng của gạch 600-1.200 kg/m3), có độ chịu nén cao hơn gạch nung, có chức năng chống ồn, tiết kiệm được chi phí, nhất là kết cấu móng cho các nhà cao tầng.
Để các sản phẩm VLKN có sức sống trên địa bàn xây dựng tỉnh nhà, cần khắc phục những hạn chế như các chủ đầu tư xây dựng chưa có thói quen sử dụng loại vật liệu này; sản phẩm VLKN chưa được đưa vào xây dựng những công trình trọng điểm; các nhà đầu tư những công trình xây dựng lớn trên địa bàn tỉnh chưa có kế hoạch dùng GKN; các kiến trúc sư không chi tiết hoá việc dùng GKN trong bản thiết kế công trình của mình; thói quen dùng gạch nung còn có sức ì rất lớn trên thị trường xây dựng.
Trọng Khang








