Vốn tín dụng: Hiệu quả và những khó khăn cần tháo gỡ
Vốn tín dụng được xác định là một trong những nguồn vốn chủ lực đầu tư cho chương trình tam nông. Trong những năm qua, nguồn vốn này đã có sự đóng góp rất đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn, kích thích sự lôi kéo nguồn vốn khác trong dân để đầu tư phát triển sản xuất.
Hàng nghìn tỷ đồng đã được đầu tư đúng mục đích, đạt hiệu quả
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Quảng Ninh, tính từ năm 1999 đến năm 2010, toàn ngành Ngân hàng Quảng Ninh đã cho vay phục vụ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 2.106 tỷ đồng, gấp 12,5 lần so với cuối năm 1999, gấp 2,5 lần so với cuối năm 2005 và chiếm tỷ trọng 6,7% so với tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng. Vốn tín dụng chủ yếu tập trung đầu tư các đối tượng chi phí trồng trọt, chăn nuôi (chiếm tỷ trọng 63%); nuôi trồng, đánh bắt hải sản; phát triển tiểu thủ công nghiệp, thuỷ lợi nội đồng, đầu tư phát triển các làng nghề nông thôn...
![]() |
| Hộ ông Nguyễn Văn Đạt, xã Bản Sen (Vân Đồn) vay vốn Ngân hàng CSXH để đầu tư nuôi trồng thuỷ sản nhưng do bị thiên tai nên đã không trả nợ được theo đúng hạn. Ảnh: Lan Hương |
Xác định việc thực hiện chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong quá trình hoạt động, nên ngành Ngân hàng đã tổ chức triển khai nghiêm túc, kịp thời các quyết định, chỉ đạo của Trung ương đồng thời đã bám sát chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, linh hoạt trong huy động vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân, chủ trang trại, các doanh nghiệp vay vốn. Đặc biệt trong thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và Nghị quyết số 01/NQ-TU của BCH Đảng bộ tỉnh khoá XIII về xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, góp phần đưa Quảng Ninh thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Liên minh HTX-DNNQD tỉnh tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai Nghị định tới đông đảo các doanh nghiệp trên địa bàn; chỉ đạo Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT tổ chức Hội nghị triển khai nội dung trên, chi nhánh tại các huyện làm việc với các hội, đoàn thể (đơn vị phối hợp có mô hình tổ vay vốn) triển khai nội dung Nghị định. Vì vậy, tính đến ngày 30-9 dư nợ cho vay phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh đạt 4.011 tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với cuối tháng 5-2010 (thời điểm trước khi triển khai thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP) và chiếm tỷ trọng 8% tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng (tỷ trọng này tại thời điểm tháng 5-2010 là 6,7%). Số lượng khách hàng vay vốn là 23.051 lượt, số khách hàng còn dư nợ 96.955 là các cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, chủ trang trại và các doanh nghiệp. Nguồn vốn này đã góp phần tạo vốn để các hộ nông dân, các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn phát triển sản xuất, góp phần giải quyết việc làm, tạo sự ổn định xã hội vùng nông thôn của tỉnh, góp phần đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.
Và những khó khăn cần tháo gỡ
Theo phản ánh của các ngân hàng thì các chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp nông thôn chủ yếu thực hiện theo Nghị định 41 của Chính phủ và các chương trình tín dụng chính sách thông qua Ngân hàng NN&PTNT và Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn. Còn chính sách tín dụng hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thuỷ sản theo Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, không phù hợp với điều kiện đặc thù sản xuất nông nghiệp của Quảng Ninh nên khó khăn khi thực hiện. Do nhu cầu vốn đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn lớn, trong khi đó, nguồn vốn ngân hàng cho vay lĩnh vực này chủ yếu vẫn từ nguồn huy động theo lãi suất thị trường (chiếm trên 75%). Vốn ngân sách tỉnh chuyển sang để cho vay hộ nghèo mới có 19,5 tỷ đồng, việc huy động các nguồn lực khác cho vay đầu tư phát triển gặp nhiều khó khăn, do vậy khó khăn cho việc hỗ trợ về lãi suất cho người vay.
![]() |
| Trồng rau màu tại xã Cộng Hoà (huyện Yên Hưng). |
|
ĐẦU TƯ TAM NÔNG - KHÔNG CHỈ LÀ VỐN NGÂN SÁCH Theo dự toán của các cơ quan chuyên môn, tổng nguồn lực cần có để đầu tư cho thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của toàn tỉnh tính đến hết năm 2015 khoảng 16.000 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư này bao gồm đầu tư từ ngân sách Nhà nước, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, người dân, vốn tín dụng... |
Khi thực hiện các đảm bảo tiền vay và xử lý rủi ro, tất cả các ngân hàng đều rất e dè do nông nghiệp, nông thôn là khu vực kinh tế thường có chi phí cao, khả năng sinh lời thấp, nhiều rủi ro khách quan (thiên tai, dịch bệnh...); trình độ dân trí hạn chế; năng lực và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp ở nông thôn yếu, khả năng tài chính yếu, giá trị tài sản đảm bảo rất thấp và cơ sở pháp lý chưa rõ ràng (nhà, đất...). Trong khi để đầu tư về cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi cần có những món vay lớn, thời gian dài. Mặc dù theo Nghị định 41 đã nâng hạn mức cho vay thông thường không cần tài sản thế chấp lên đến 50 triệu đồng đối với cá nhân, hộ sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, 200 triệu đồng đối với hộ kinh doanh, sản xuất, dịch vụ phục vụ nông nghiệp nông thôn, 500 triệu đồng đối với hợp tác xã, chủ trang trại trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nhưng nhiều khách hàng chưa đủ uy tín, thiếu phương án kinh doanh khả thi nhất là đối với các hợp tác xã nông nghiệp, nông thôn nên khả năng tiếp cận vốn ngân hàng khó khăn. Mặt khác cùng với việc nâng hạn mức cho vay không cần tài sản thế chấp làm tăng đáng kể rủi ro cho hoạt động của các ngân hàng thương mại (hiện tại nợ xấu trong lĩnh vực cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm tỷ trọng là 10,04% cao hơn gấp nhiều lần tỷ trọng nợ xấu chung cho hoạt động tín dụng). Trong khi cho vay khu vực này các ngân hàng đã rất e dè rồi thì khi gặp các rủi ro thì cơ chế xử lý chưa được hợp lý, theo Nghị định 41 chỉ mới quy định xử lý rủi ro trên diện rộng do những nguyên nhân khách quan, bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh...), Nhà nước có chính sách xử lý thiệt hại cho người vay và cho vay (khoanh, miễn, xoá, giãn nợ), mà chưa có quy định hỗ trợ đối với rủi ro khách quan, bất khả kháng trong phạm vi hẹp, trong khi trên địa bàn tỉnh chưa có hình thức bảo hiểm trong nông nghiệp hoặc các quỹ hỗ trợ khác khi cần xử lý rủi ro... do vậy đã ảnh hưởng đến việc mở rộng cho vay của Ngân hàng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Mặc dù trong thời gian qua các ngân hàng đã có sự phối hợp rất tốt trong việc thành lập tổ, nhóm vay vốn thông qua các tổ chức Hội Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên. Tuy nhiên, việc triển khai, tuyên truyền chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp nông thôn chưa được sâu rộng; hoạt động của các tổ chức hội vay vốn, xác nhận thông tin về người vay, hỗ trợ, phối hợp thu hồi nợ có lúc, có nơi còn khó khăn, bất cập.
Từ những khó khăn bất cập nảy sinh trong thực tiễn triển khai thực hiện đòi hỏi cần có những giải pháp khắc phục để đồng vốn tín dụng có thể đến được với những người nông dân, các tổ chức doanh nghiệp, chủ trang trại đang hoạt động sản xuất ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Ngọc Lan
|
Ý KIẾN NGƯỜI TRONG CUỘC Ông Phạm Văn Cung, Phó Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh: PV |









