.

Tăng cường các giải pháp quản lý, khai thác nguồn nước

Cập nhật lúc 05:09, Thứ Tư, 07/12/2011 (GMT+7)

Quảng Ninh được đánh giá là một tỉnh có nguồn nước mặt khá phong phú. Tuy nhiên, nguồn nước ngầm trữ lượng thấp và không đáp ứng được nhu cầu cấp nước. Đặc biệt công tác quản lý còn nhiều bất cập.

Hiện trạng khai thác

Hiện nay, các nguồn nước mặt đang được khai thác phục vụ cho mục đích sinh hoạt trên địa bàn tỉnh được phân thành 4 vùng: Vùng 1, lưu vực sông Đá Bạc cấp nước cho các địa phương Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên. Vùng 2, lưu vực các sông Man, Trới, Diễn Vọng cấp nước cho Hạ Long, Hoành Bồ, Cẩm Phả. Vùng 3, lưu vực các sông Ba Chẽ, Tiên Yên cấp nước cho Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu và vùng 4, lưu vực sông Đầm Hà, Hà Cối, Tài Chi và Ka Long gồm các địa phương Đầm Hà, Hải Hà và TP Móng Cái. Tổng sản lượng khai thác các nguồn nước của tỉnh đạt trên 30 triệu m3 chủ yếu phục vụ sinh hoạt. Theo số liệu thống kê của Phòng Tài nguyên nước và Khí tượng thuỷ văn (Sở Tài nguyên và Môi trường) cho thấy, hiện nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh chủ yếu thuộc các công trình thuỷ lợi và hệ thống các sông, suối được khai thác phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, một phần tạo nguồn cho công trình cấp nước sinh hoạt, phát triển công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản… Hiện nay, đối với các công trình thuỷ lợi kiên cố, hiện toàn tỉnh có 39 hồ, đập cấp nước tưới cho 25.867ha lúa. Tổng dung tích của các hồ chứa nước trong tỉnh là 318 triệu m3. Tuy nhiên, có thể nói rằng, việc đánh giá hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên các công trình thuỷ lợi là rất khó khăn và rất ít công trình được cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

Trạm bơm tăng áp cầu I, Vân Đồn (Công ty TNHH MTV kinh doanh nước sạch Quảng Ninh) cung cấp nước sinh hoạt cho các hộ dân trên địa bàn phường Mông Dương (Cẩm Phả) và huyện Vân Đồn. Ảnh: TRANG THU
Trạm bơm tăng áp cầu I, Vân Đồn (Công ty TNHH MTV kinh doanh nước sạch Quảng Ninh) cung cấp nước sinh hoạt cho các hộ dân trên địa bàn phường Mông Dương (Cẩm Phả) và huyện Vân Đồn. Ảnh: TRANG THU

Theo đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, nhìn chung chất lượng nước mặt của Quảng Ninh tương đối tốt, đáp ứng nhu cầu phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, một số nơi ở khu vực đô thị, các hồ chứa nước gần khu dân cư có biểu hiện ô nhiễm nhẹ như hàm lượng chất thải rắn lơ lửng (TSS) và các chất hữu cơ (BOD, COD). Đối với tài nguyên nước dưới đất chủ yếu được khai thác phục vụ cho mục đích sinh hoạt. Hiện nay trữ lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh có khoảng 80.000m3/ ngày/đêm được phân ra 3 loại hệ thống khai thác gồm: Hệ thống khai thác nước tập trung, hệ thống khai thác đơn lẻ và hệ thống cấp nước nông thôn. Tuy nhiên, chỉ có các đô thị miền Tây như Đông Triều, Mạo Khê, Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả là có khả năng khai thác nguồn nước ngầm; các đô thị khác lượng nước ngầm rất nhỏ hoặc bị nhiễm mặn. Ngay tại khu vực Hạ Long, Cẩm Phả nơi trữ lượng nước ngầm được đánh giá là dồi dào nhất, công suất khai thác cũng đã giảm dần trong thời gian qua. Tổng công suất khai thác nước ngầm tại khu vực này chỉ đạt từ 6.000 đến 10.000m3/ngày/đêm. Hệ thống khai thác nước đơn lẻ gồm những giếng khoan thuộc các nhà máy, xí nghiệp tập trung chủ yếu ở thành phố, thị xã và trung tâm các thị trấn, các khu công nghiệp và thường được thiết kế khai thác ở tầng sâu, lưu lượng khai thác trung bình. Theo kết quả điều tra, khảo sát trên địa bàn tỉnh có khoảng 286 giếng khoan với tổng lưu lượng khai thác khoảng 12.313,2m3/ngày. Tuy nhiên, các lỗ khoan và giếng đào chủ yếu tập trung khu vực nông thôn, được thực hiện tự phát dùng để cấp nước cho gia đình ăn uống sinh hoạt, thời gian khai thác theo nhu cầu của gia đình. Chính vì vậy, nhiều nguồn nước đã cạn kiệt hoặc đang bị nhiễm mặn nặng nề do tốc độ khai thác quá nhanh trên cùng một địa tầng như khu vực phường Cẩm Đông, Cẩm Tây (Cẩm Phả), Hiệp Hoà (Quảng Yên) và một số xã ở huyện Cô Tô. Một thực trạng đáng báo động hiện nay là việc khoan giếng ở khắp nơi, lấy nước vô tội vạ, lãng phí; nước không chỉ dùng cho sinh hoạt mà còn dùng cho dịch vụ rửa xe, nuôi trồng thuỷ sản... Do đó, ở một số nơi nhất là khu vực nông thôn xảy ra không ít trường hợp khai thác nước ngầm không có giấy phép, khai thác quá mức hoặc quá thời hạn cho phép. Những tác động này đã dẫn đến hiện tượng mực nước ngầm tụt, ô nhiễm, xâm nhập mặn. Khi nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn thì nguồn nước ngọt giảm nhanh, đất đai bị thoái hoá, thảm thực vật bề mặt bị tác động tiêu cực.

Tăng cường các giải pháp quản lý

Trong những năm qua, công tác quản lý tài nguyên nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước đã được quản lý đúng pháp luật. Từ đầu năm đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 53 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên nước. Qua kết quả kiểm tra cho thấy, nhiều tổ chức, cá nhân đã có ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ nguồn nước nhằm khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp lý, tiết kiệm, có biện pháp phòng chống ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt nguồn nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tổ chức, cá nhân thiếu ý thức, không chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước. Trên thực tế hiện nay, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên nước nhìn chung có thực hiện công tác bảo vệ nguồn nước nhưng chẳng được là bao và chưa đáp ứng yêu cầu so với khối lượng khai thác, xả thải. Bởi hiện nay, mới có 1/3 tổng số đơn vị trên địa bàn tỉnh có giấy phép hoạt động xả nước thải vào nguồn nước. Số còn lại xả thải ra môi trường và trực tiếp vào nguồn nước làm ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nước và làm ô nhiễm môi trường.

Đánh giá về việc thực hiện công tác này, Sở Tài nguyên và Môi trường cho rằng: Hiện nay nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của công tác quản lý tài nguyên nước còn hạn chế và thiếu ý thức tự giác chấp hành pháp luật tài nguyên nước. Tình trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, hành nghề khoan nước dưới đất tự do, tuỳ tiện vẫn còn phổ biến. Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước mặt đối với các công trình thuỷ lợi còn chưa có hướng dẫn rõ ràng. Đối với công tác bảo vệ nguồn nước thực sự khó khăn, nan giải bởi các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên nước chưa xây dựng được hoặc xây dựng chưa hoàn chỉnh công trình xử lý nước thải. Với những tồn tại trên, thiết nghĩ trong thời gian tới các cấp, các ngành, đơn vị trên địa bàn tỉnh cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền Luật Tài nguyên nước, tổ chức thanh tra, kiểm tra thường xuyên và có chế tài xử lý vi phạm nhằm thực hiện tốt công tác khai thác, bảo vệ nguồn nước, đảm bảo nước sản xuất, sinh hoạt cũng như phục vụ các mục đích khác cho nhân dân trong tỉnh.

Thu Trang

,
.
.
.
.
.