.

Phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Cập nhật lúc 10:53, Thứ Tư, 16/11/2011 (GMT+7)

Với vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, tiềm lực kinh tế được xây dựng qua gần 25 năm đổi mới đã giúp Quảng Ninh có vị thế ngày càng quan trọng trong hợp tác Hai hành lang - Một vành đai kinh tế Việt Nam - Trung Quốc. Tuy nhiên, những thành tựu mà tỉnh Quảng Ninh đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế mặc dù phát triển khá cao nhưng chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và công nghệ của nhiều ngành kinh tế còn thấp. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập, kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu, du lịch chưa phát triển so với yêu cầu... Điều đó, trong chừng mực nhất định đang cản trở bước tiến của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2010 - 2015) đã chỉ rõ: "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào sản xuất, dịch vụ, phát triển mạnh những ngành có lợi thế, gắn với thu hút đầu tư phát triển những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, chú trọng thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, công nhân kỹ thuật lành nghề".

Để thực hiện chủ trương trên, một trong những vấn đề quan trọng là phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực - nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng. Nhân tố đóng vai trò quyết định cho sự phát triển bền vững của Quảng Ninh là nguồn nhân lực chất lượng cao, chứ không chỉ là nguồn của cải vật chất. Do đó, hình thành và phát triển NNL có chất lượng cao là yếu tố quan trọng nhất không chỉ trong sự phát triển KT - XH của mỗi địa phương, mà còn tạo cơ hội tiếp cận kinh tế tri thức.

Nhận thức được điều đó, những năm qua dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và sự nỗ lực, cố gắng của các cấp, các ngành trong tỉnh, nguồn nhân lực của tỉnh không chỉ duy trì được tốc độ phát triển hợp lý về mặt số lượng mà còn được cải thiện khá rõ rệt về mặt chất lượng và tình trạng việc làm, tạo điều kiện thuận lợi cho các bước phát triển tiếp theo ở những năm tới. Tuy nhiên, quá trình xây dựng nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội của Quảng Ninh còn bộc lộ một số tồn tại hạn chế, đó là: Đào tạo và bố trí sử dụng nguồn nhân lực có trình độ đại học trở lên trên địa bàn của tỉnh còn chưa được cân đối ở một số ngành, lĩnh vực; Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ còn thụ động; Công tác đào tạo nghề theo phương châm xã hội hoá tuy có nhiều tiến bộ, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, mới chỉ tập trung đào tạo đại trà, ngắn hạn chưa đủ điều kiện đào tạo lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật cao, chưa đáp ứng kịp yêu cầu thị trường lao động; cơ cấu ngành, nghề đào tạo lao động còn nhiều bất cập so với yêu cầu của nền kinh tế và của thị trường lao động; Tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn thấp so với tỷ lệ chung của cả nước và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Để tiếp tục xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong thời gian tới, tỉnh cần tập trung một số giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, cần thực hiện tốt công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình để có quy mô dân số thích hợp, đồng thời phát triển hệ thống chăm sóc sức khoẻ, nâng cao thể lực cho người dân.
Thứ hai, phát triển giáo dục phổ thông đảm bảo công bằng để làm cơ sở cho việc xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng đồng thời phát triển hệ thống trường đào tạo và điều chỉnh cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

Thứ ba, cần chú trọng mở rộng việc bồi dưỡng kỹ năng lao động, truyền nghề cho lao động phổ thông, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số thông qua việc kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện, Trung tâm dạy nghề các huyện, Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện…

Thứ tư, đẩy mạnh đào tạo nhân lực có chất lượng cao để phục vụ cho phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp và phát triển dịch vụ trên địa bàn tỉnh, mà cụ thể là các khu khu kinh tế, khu công nghiệp có vai trò động lực trong vùng.

Thứ năm, phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế, có chính sách khuyến khích sử dụng lao động địa phương thông qua các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các hộ gia đình đầu tư phát triển sản xuất. Vận dụng linh hoạt các cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư; tiếp tục đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính trong đầu tư, thành lập doanh nghiệp, đền bù giải phóng mặt bằng vv… đa dạng các hình thức đầu tư nhằm huy động tối đa các nguồn vốn của dân cư, tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài vào xây dựng hoặc mở rộng quy mô, nâng cao công suất, đổi mới thiết bị, dây chuyền công nghệ trong các nhà máy, các cơ sở kinh doanh. Hỗ trợ các hợp tác xã, các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra nhiều việc làm, thu hút ngày càng nhiều lao động địa phương tham gia, thông qua các chính sách phù hợp về tài chính - tín dụng, về khoa học công nghệ...

Thứ sáu, phân bố và điều chỉnh hợp lý nguồn nhân lực theo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thông qua đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, bằng cách: Ứng dụng công nghệ tiến tiến để tăng năng suất, chất lượng các loại cây trồng, vật nuôi. Phát triển mạnh kinh tế hộ, trang trại, vùng chuyên môn hoá. Đẩy mạnh đưa công nghiệp, dịch vụ về nông thôn; đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp. Phát triển ngành nghề theo thế mạnh từng địa phương, quan tâm đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động. Nâng cao hiệu quả, bền vững công tác xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, địa phương. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả. Tạo điều kiện để nông dân tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa. Thực hiện tốt công tác định canh, định cư, gắn với giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, chú trọng đầu tư ở những vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Điều chỉnh kịp thời và hợp lý mật độ dân cư và lao động trong độ tuổi giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn, giữa những nơi có mật độ dân cư quá cao và dân cư quá thấp, giữa các thành phần kinh tế, giữa cơ cấu đào tạo và ngành nghề đào tạo. Phân bố dân cư và nguồn nhân lực phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, hải đảo đảm bảo giữ vững an ninh quốc phòng bảo vệ trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ.

Thứ bảy, gắn tăng trưởng, phát triển kinh tế với nâng cao và khắc phục từng bước chênh lệch về mức sống của nhân dân giữa các vùng trong Tỉnh. Các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước cần được cải tiến nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư đều có cơ hội tiếp cận một cách công bằng đối với các yếu tố "đầu vào" của sản xuất, kinh doanh. Các yếu tố "đầu vào" này bao gồm cả hữu hình và vô hình như đất đai, tín dụng, kỹ thuật, môi trường kinh doanh, thông tin kinh tế...

Thứ tám, có chính sách thu hút lao động có trình độ chuyên môn cao về làm việc ở Quảng Ninh. Để thu hút được lao động có trình độ cao như giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sỹ, bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa, người học đại học chính quy đạt loại giỏi thì ngoài chính sách thu hút như hiện tại, tỉnh cần có các chính sách bổ sung cụ thể khác, như hỗ trợ điều kiện làm việc, sinh hoạt, đi lại. Trợ cấp trong khoảng thời gian dài ban đầu, các chính sách cụ thể về hợp đồng lao động với mức lương tương đương hoặc cao hơn khi họ làm việc tại các tỉnh, thành phố khác… Có như vậy mới có thể thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao về Quảng Ninh làm việc. Qua đó để giúp đẩy nhanh quá trình thực hiện CNH, HĐH cũng như thúc đẩy việc nâng cao chất lượng NNL của tỉnh, giúp KT-XH phát triển nhanh, bền vững thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Nguyễn Văn Hồi (Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Quảng Ninh)

,
.
.
.
.
.