.

Công tác quản lý Nhà nước về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề được quan tâm thực hiện

Cập nhật lúc 06:29, Thứ Hai, 12/09/2011 (GMT+7)
Xác định bảo vệ môi trường là yếu tố quyết định đối với phát triển bền vững các khu kinh tế, làng nghề trên địa bàn tỉnh, vì vậy công tác quản lý Nhà nước về môi trường đã và đang được các cấp, các ngành của Quảng Ninh quan tâm và triển khai thực hiện. 

Trang trí hoa văn cho sản phẩm tại cơ sở gốm sứ Thắng Lan (Đông Triều).                                           Ảnh: Hữu Việt
Trang trí hoa văn cho sản phẩm tại cơ sở gốm sứ Thắng Lan (Đông Triều). Ảnh: Hữu Việt
Quảng Ninh có 1 khu kinh tế ven biển, 5 khu công nghiệp, 11 cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và 4 làng nghề, 2.500 cơ sở bảo quản, chế biến nông lâm, thuỷ sản (chủ yếu quy mô hộ gia đình), gồm có 1.737 cơ sở chế biến nông sản; 794 cơ sở chế biến lâm sản; 98 cơ sở sản xuất sứ, thuỷ tinh; 295 cơ sở nghề mộc, chế biến gỗ; 167 cơ sở sửa chữa cơ khí; 981 cơ sở dệt may, thêu ren; 41 cơ sở đóng tàu thuyền gỗ... Trong đó, số doanh nghiệp công nghiệp nông thôn có  400 cơ sở, chiếm 76% tổng số doanh nghiệp công nghiệp địa phương. Ngoài ra có 6.000 hộ sản xuất ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (chiếm 47,2%) vốn đăng ký kinh doanh trên 3.500 tỷ đồng, với 26 loại ngành nghề khác nhau; giá trị sản xuất hàng hoá chiếm gần 8% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh.

Trong quá trình triển khai xây dựng các cụm công nghiệp, quy hoạch các khu sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương đều đã chấp hành tốt các quy định về xả thải và xử lý nguồn chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Các doanh nghiệp trong các KKT đã được Ban Quản lý Khu kinh tế kiểm tra và hướng dẫn thực hiện đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại tại Sở Tài nguyên - Môi trường, hướng dẫn phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại và ký hợp đồng với đơn vị có chức năng về vận chuyển chất thải nguy hại, xử lý chất thải nguy hại theo đúng quy định. Các doanh nghiệp hoạt động trong khu kinh tế hầu hết đều có đánh giá tác động môi trường (ĐTM), thực hiện nghiêm túc và giám sát đầy đủ các thông số quan trắc môi trường xung quanh và chất thải theo quy định. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn KKT đều đã có những biện pháp giảm thiểu tối đa lượng chất thải phát sinh; tận dụng các chất thải để làm nguyên liệu cho quá trình san lấp, xây dựng và hoạt động của dự án.

Qua khảo sát thực tế và quan trắc, phân tích chất lượng môi trường không khí tại khu vực KKT Vân Đồn cho thấy không khí huyện đảo Vân Đồn còn tương đối trong lành, mật độ dân cư thấp, cùng với các hoạt động sản xuất công nghiệp còn hạn chế giúp cho huyện đảo này tránh được các ảnh hưởng xấu đến môi trường không khí. Các nguồn tác động nội sinh ảnh hưởng đến môi trường nước biển ven bờ hiện tại của huyện Vân Đồn vẫn chưa nhiều. Các tác nhân chủ yếu chỉ là hoạt động buôn bán, cảng biển, sửa chữa tàu thuyền và đánh bắt hải sản của người dân nơi đây, các tác động này mang tính cục bộ và đang ở mức nhẹ.

Tuy nhiên, bên cạnh các cụm công nghiệp, làng nghề chấp hành tốt các quy định về vệ sinh môi trường, còn một số cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn trong dân phần lớn là thủ công nhỏ lẻ, công nghệ sản xuất thủ công lạc hậu chưa chấp hành tốt việc thực hiện phòng chống ô nhiễm môi trường, chất thải của các cơ sở này tuy không lớn nhưng cũng làm ảnh hưởng tới nguồn nước, không khí trong khu vực, đặc biệt là các cơ sở chế biến nông, lâm sản, như: Chế biến miến dong, chế biến sứa, các cơ sở chế biến bún, bánh, thực phẩm...

Để công tác bảo vệ môi trường ngày một tốt hơn, các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; tiếp tục tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo sự chuyển biến đồng bộ về nhận thức và hành động về bảo vệ môi trường trong các khu kinh tế, làng nghề trên địa bàn tỉnh. Nâng cao năng lực quản lý môi trường cho các cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường của các sở, ban ngành, địa phương, đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH-HĐH. Trang bị các thiết bị đo nhanh các thông số môi trường cho các lực lượng chức năng nhằm sớm phát hiện các nguồn gây ô nhiễm môi trường tại cơ sở.

Cầm Khuê
,
.
.
.
.
.