.

Đường lên Yên Tử...

Cập nhật lúc 05:21, Chủ Nhật, 30/06/2013 (GMT+7)

Tôi không thể nhớ hết đã bao nhiêu lần về với Yên Tử non thiêng. Duy có điều, những lần ấy, chúng tôi đều đi theo đường từ Dốc Đỏ vào qua suối Giải Oan, hoặc đi theo đường từ Lán Tháp - Vàng Danh, qua Bảo Đài sang Yên Tử; nghĩa là đi theo con đường quen thuộc từ phía đông sườn núi. Còn lần này, chúng tôi đi từ sườn phía tây, từ phía Bắc Giang sang. Và không ngờ, đi theo hướng này, càng thấy Yên Tử thật tuyệt vời...

Trước Tết Nguyên đán, nghe các phương tiện truyền thông đưa tin: Kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, chủ yếu là những kinh Phật của Thiền phái Trúc Lâm tam tổ, đã được UNESCO công nhận và ghi danh là Di sản thế giới. Thật mừng vui khôn xiết! Và vì thế, chúng tôi chọn nơi ấy là điểm đến chiêm bái, cũng để tìm hiểu bổ sung thêm cho mình những hiểu biết về Di sản mộc bản Chùa Vĩnh Nghiêm nói riêng, Thiền phái Trúc Lâm nói chung…

Du khách hành hương về Yên Tử. Ảnh: Phạm Học
Du khách hành hương về Yên Tử. Ảnh: Phạm Học

Chùa Vĩnh Nghiêm toạ lạc ở xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, Bắc Giang, nhân dân địa phương quen gọi là chùa Đức La. Nơi đây còn lưu giữ một kho tàng khá đồ sộ các mộc bản kinh Phật và đang được bảo quản tốt. Trong kho có ba mươi tư đầu sách, bao gồm khoảng ba nghìn bản khắc. Mỗi bản khắc có bốn trang, mỗi trang có khoảng hai nghìn chữ Nôm (hoặc chữ Hán), tất cả đều được khắc ngược để khi in được bản in xuôi. Những kinh Phật này có đặc trưng chung nhất là thuộc Thiền phái Trúc Lâm. Nhiều trang mộc bản còn ghi rõ việc Trần Nhân Tông sáng lập phái thiền Việt Nam này từ thế kỷ XIII, hoặc ghi chép về những nơi đào tạo tăng đồ cho khắp mọi vùng miền của đất nước ta. Những mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được đánh giá là rất quý báu, độc đáo và nguyên vẹn nhất còn lại với chúng ta, với những kỷ lục quốc gia như: Có niên đại sớm nhất, nhiều sách nhất, chữ chuẩn và đẹp nhất trong số các thư mộc sách cổ, hình thức trình bày trên ván khắc đạt đến độ tinh xảo nhất... Như những người bảo quản mộc bản giới thiệu, thì ngày nay chúng ta không dễ gì có được bí quyết tạo tác ra các mộc bản đó, vì đã quá lâu, nên bí quyết đã thất truyền. Giá trị các mộc bản tại đây còn được đánh giá là mang ý nghĩa quốc tế. Bởi sách được in khắc của Thiền phái Trúc Lâm, mang tư tưởng, giáo lý của thiền phái thuần Việt, song đã thấm sâu và ảnh hưởng đậm nét, rộng rãi không chỉ trong nước mà còn có nhiều ảnh hưởng ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Chính vì vậy, mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản tư liệu Ký ức thế giới vào  tháng 5-2012...

Từ Chùa Vĩnh Nghiêm, chúng tôi đi theo đường rừng lên Yên Tử, nhắm vào đúng dịp Lễ hội xuân Yên Tử được tổ chức hằng năm. Khi biết chúng tôi có ý tưởng vừa đi, vừa khám phá về vùng đất phía tây Yên Tử, những người dân dưới chân núi ai cũng tỏ ra nhiệt tình, sẵn sàng giúp đỡ. Người thì chỉ đường đi qua các địa danh; người miêu tả đoạn đường đi qua hai trăm chín mươi ba con suối, thác nước và ghềnh đá… là tới chùa Đồng. Người khác nói kỹ về những cánh rừng nguyên sinh án ngữ lối đi. Người lại động viên “khắc đi khắc tới”, qua một cánh rừng, lập tức sẽ thấy chùa Đồng của Yên Tử hiện ra v.v.. Và ai cũng bảo theo hướng tây, đường tới Yên Tử mùa xuân có những vẻ đẹp vừa “mê hồn” vừa khác lạ hơn so với đi theo hướng đông, “hướng truyền thống”! Những điều ấy khiến chúng tôi càng háo hức bước đi…!

Từ sườn núi phía tây này, hẳn có nhiều người đã hành hương về Yên Tử. Có chỗ đường đi còn hằn rõ dấu chân người. Theo chỉ dẫn, chúng tôi chọn bản Mậu (thuộc xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, Bắc Giang) làm địa điểm xuất phát. Biết tôi từ Quảng Ninh đến, nhiều người vui vẻ trò chuyện về một thời Sơn Động từng thuộc về tỉnh Quảng Ninh. Ngay đến năm 1963, vẫn còn có những bản làng được chia tách ra từ Quảng Ninh để sáp nhập về huyện Sơn Động. Như thế đủ thấy, nơi đây vốn đã có những sự liên kết, ràng rịt thân thiết với Quảng Ninh quê mình.

Từ bản Mậu, đi không lâu đã thấy chùa Đồng hiện ra trên núi rừng xanh thẳm. Nhưng đi bộ ít ra cũng mất bốn tiếng đồng hồ mới tới được. Bởi đường đi chỉ là những lối mòn. Có nơi lá rừng rụng xuống phủ kín lối đi. Có chỗ, nhân dân trong vùng bắc những thang gỗ qua các lèn đá, kiểu như những chiếc thang dã chiến. Đây đó có những cây rừng đổ xuống, mục nát, như ở đại ngàn Trường Sơn thời chống Mỹ vậy. Khung cảnh thật thanh bình và thơ mộng. Tiếng chim chóc hót ríu ran. Tiếng reo của trúc, của thông khi vi vút, lúc xào xạc đến nao lòng. Thảng hoặc những con thú rừng lại bất chợt phóng ra, rồi chạy biến, khuất vào rừng cây lá… Đến suối Nước Trong, chúng tôi gặp một đoàn khách nước ngoài đang nghỉ lấy sức trước khi đi tiếp. Họ chuyện trò với nhau, dẫu chỉ nghe bập bõm câu được, câu chăng, song tôi biết họ là những du khách người Anh, người Italia, từ Hà Nội về Bắc Giang, rồi lên vãn cảnh Yên Tử theo hướng tây này. Khi đến rừng trúc, chúng tôi choáng ngợp, trước một vùng rừng cây, toàn là trúc, bạt ngàn những cây trúc óng ả, thân thẳng đứng, mọc đều tăm tắp, đẹp hơn cả những cảnh rừng trúc trong phim dã sử của nước ngoài… Và bất chợt, một “cụ rùa” hiện ra chắn giữa lối đi. “Cụ” đã hoá đá và hiện diện tại đây từ bao đời không ai biết chính xác, song nhân dân trong vùng tôn sùng, xem “Cụ” thiêng lắm. Mỗi khi qua đây, ai nấy đều thành tâm bái lạy hết sức kính cẩn!

Chùa Đồng kia rồi! Mọi mệt nhọc đều như tan biến. Không bao lâu nữa, tôi đã có thể tới lễ Phật ở chốn huyền không, nơi nối trời với đất, nơi trời cách đất có… ba thước, như lời trong bài hát “Phù Vân Yên Tử” nổi tiếng…

Ở phần đầu bài viết có nhắc đến bản Mậu mà chúng tôi chọn làm xuất phát điểm. Đó là một bản người Dao với trên một trăm nóc nhà. Truyền thuyết kể rằng, khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông quyết chí rũ bỏ hoàng bào, lên núi Yên Tử tu hành, các cung tần, mỹ nữ tình nguyện đi theo để nâng khăn sửa túi. Đến suối Giải Oan, ở sườn đông, Thượng hoàng khuyên các cung tần quay về. Một số người đã gieo mình xuống suối quyên sinh. Có năm mỹ nữ ở lại bên này suối, ngày ngày ngóng trông lên Yên Tử. Sau khi không còn hy vọng gặp lại Thượng hoàng, họ đã lấy chồng, sinh con, đẻ cái và lập nên làng Năm Mẫu (năm người mẹ). Nơi ấy, về sau được gọi chệch đi là Nam Mẫu ở Thượng Yên Công, bên sườn đông Yên Tử như ngày nay. Những mỹ nữ, cung tần thân tín nhất, được theo Thượng hoàng đến phía tây chùa Đồng. Đến đây, người nhất quyết không cho một ai theo nữa. Thế nên các cung tần, mỹ nữ đành ở lại giữa rừng xanh núi thẳm này, rồi thành bản Mậu. Hậu duệ họ sinh thành ra, đều mang theo những nét kiều diễm của các mỹ nữ, cung tần xưa…

Câu chuyện được kể trong hành trình lên Yên Tử càng khiến cho chuyến đi thêm ý nghĩa. Đặc biệt thú vị hơn, xung quanh truyền thuyết về bản Mậu - “Làng gái đẹp”, còn có những câu chuyện dân gian rất hóm hỉnh... Khi đi qua “Hòn đá đĩ”, một người trong đoàn đã kể, rằng xưa kia, có một chàng trai từ bản Gà sang bản Mậu để tìm vợ. Anh chàng vừa đi vừa nghĩ cách làm sao để ngỏ lời với “đối tượng”… Song chẳng nghĩ ra điều gì hay ho. Sắp đến làng mà anh ta vẫn bí rì. Thấy một tảng đá, anh bèn ngồi nghỉ để suy nghĩ tiếp. Trong lúc còn đang mông lung, anh vô tình nhặt chiếc que ở mặt đất, chọc vào khe nứt ở giữa tảng đá. Bất ngờ nước từ tảng đá xối xả tuôn ra. Anh chàng kia như bừng tỉnh. Khi tới làng, vào nhà một cô gái, sau vài ba câu chuyện, cô gái đã nhận lời cầu hôn của anh. Họ thành vợ thành chồng sống hạnh phúc. Thấy vậy, các chàng trai ở bản Gà luôn đến nhờ anh mách nước, lấy que chọc vào vết nứt giữa hòn đá nọ và đều lấy được vợ ở “Làng gái đẹp”. Những người con trai bản Mậu thấy gái đẹp trong làng cứ lần lượt đi lấy chồng ở làng, ở bản bên nên hè hụi nhau đào tảng đá lên, rồi cùng nhau vần ra giữa đường chắn lối… Tảng đá ấy người đời sau đặt tên là “Hòn đá đĩ”… Câu chuyện đậm chất huyền thoại, song điều cốt yếu, đó là nét văn hoá dân gian đặc sắc, hóm hỉnh ở mảnh đất phía tây của núi rừng Yên Tử. Chưa hết, trước khi lên đường, chúng tôi còn nghe kể ở bản Mậu có một “Giếng nước thần”. Thiếu nữ trong bản tắm gội bằng nước lấy từ giếng này, da dẻ trở nên mịn màng, trắng trẻo, nõn nà. Nước giếng ấy gội tóc thì tóc đen nhánh và luôn như có mùi hương toả ra thơm tho, quyến rũ… Có điều giếng chỉ dành cho các cô gái còn trinh bạch. Những người đã nhuốm bụi trần tục thì nước giếng không còn linh nghiệm nữa! Chính vì thế, chiếc giếng này, còn được dân bản gọi với cái tên khác là “Giếng Trinh Nữ”…

Vậy là cùng với việc khám phá Yên Tử, nhờ chuyến đi, chúng tôi còn có thêm sự hiểu biết về nhiều giá trị về văn hoá phi vật thể ở phía tây Yên Tử. Đó là kho báu văn nghệ dân gian đang đợi được đánh thức… 

Yên Tử đã trở thành một trong những di tích quốc gia đặc biệt. Không gian Yên Tử sẽ được mở rộng và kết nối khắp vùng, đương nhiên không thể thiếu vùng đất ở phía tây Yên Tử. Vậy nên nếu cùng với con đường phía đông, con đường hành hương lên Yên Tử từ phía tây được xác lập, hẳn sẽ đem đến cho du khách những khám phá bổ ích, hấp dẫn…

Hà Văn Phàn

,
.
.
.
.
.