.

Khó khăn trong kiểm soát thực phẩm thẩm lậu

Cập nhật lúc 10:39, Thứ Ba, 16/08/2011 (GMT+7)
Trong thời gian qua, các ngành chức năng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều cố gắng trong kiểm soát thực phẩm và các sản phẩm thực phẩm từ động vật. Trong 6 tháng đầu năm 2011, các ngành đã kiểm tra và cấp giấy chứng nhận kiểm dịch cho hơn 43.000 con gà thịt, gần 9.600 con lợn, 90.000 quả trứng, hơn 4.500 triệu con các loại: Tôm, tù hài... Mặc dù vậy, với đường biên giới tiếp giáp Trung Quốc khá dài, kể cả đường bộ và đường biển nên rất nhiều loại thực phẩm thẩm lậu vào địa bàn khó kiểm soát hết.

 Phòng Cảnh sát Môi trường (Công an tỉnh) phối hợp cùng Đội Quản lý thị trường số 5 (TP Hạ Long) thu giữ trứng gia cầm nhập lậu từ Trung Quốc.
Phòng Cảnh sát Môi trường (Công an tỉnh) phối hợp cùng Đội Quản lý thị trường số 5 (TP Hạ Long) thu giữ trứng gia cầm nhập lậu từ Trung Quốc.
Tại cuộc họp triển khai phối hợp thiết lập hệ thống cảnh báo nguy cơ ô nhiễm thực phẩm qua biên giới năm 2011 tại TP Móng Cái, các cơ quan, lực lượng chức năng tham dự đều khẳng định: Thực phẩm xuất nhập khẩu theo đường chính ngạch đều được kiểm soát, đảm bảo độ an toàn, nhưng thực phẩm thẩm lậu, vào địa bàn rất khó nắm bắt, quản lý.

Trong khi đó, một số cơ quan chức năng liên quan đến kiểm tra thực phẩm đứng chân trên các địa phương có đường biên giới như: Chi Cục Quản lý cửa khẩu; Trạm kiểm dịch động, thực vật... chỉ kiểm soát thực phẩm xuất, nhập khẩu theo đường chính ngạch. Còn với các đơn vị khác, như: Đội Quản lý thị trường số 4, Trung tâm Y tế, Phòng Y tế... lại chỉ kiểm tra thực phẩm khi đã lưu hành, bán trên địa bàn. Mặt khác, việc kiểm tra thực phẩm lưu hành rất phức tạp, khó xác định về nguồn gốc. Từ tháng 4-2011, TP Móng Cái đã thành lập tổ công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. Mỗi tuần, tổ này đi kiểm tra 2-3 buổi về vệ sinh an toàn thực phẩm. Anh Vi Văn Toản, Phó giám đốc Trung tâm Y tế tp Móng Cái, cho biết: “Do đặc điểm trên địa bàn rất ít cơ sở sản xuất thực phẩm nên hầu như thực phẩm lưu hành ở Móng Cái đều nhập từ nơi khác về, trong đó có nhiều thực phẩm xuất xứ ở Trung Quốc. Tuy nhiên, khi đã lưu hành trên địa bàn thì các loại thịt, rau... rất khó xác định nguồn gốc ở đâu đưa về”.

Không chỉ lưu hành trên thị trường của các địa phương ở khu vực biên giới mà phần lớn thực phẩm thẩm lậu qua biên giới được vận chuyển sâu vào nội địa. Theo báo cáo của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh: Trong 6 tháng đầu năm 2011, các ngành chức năng của tỉnh đã tiến hành xử lý 87 vụ vận chuyển động vật và sản phẩm động vật trái phép, gồm: 300kg tê tê, hơn 270.000 quả trứng, trên 93.000kg gia cầm, 62.340kg nội tạng; hơn 2.700kg mèo, ếch, rùa, ngao, vịt trời... Tuy nhiên, đây chỉ là “phần nổi trong tảng băng chìm”, bởi thực tế, số thực phẩm thẩm lậu vào địa bàn tỉnh và trung chuyển đến các tỉnh, thành khác rất nhiều, trong đó có gà, trứng gà nhập lậu. Mặc dù công tác tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm được đẩy mạnh, riêng 6 tháng đầu năm 2010, ngành công thương tổ chức tới 299 lượt truyền thông trên kênh tuyên truyền tuyến xã và tại các chợ, siêu thị, các ngành khác cũng tổ chức rất nhiều đợt tuyên truyền... Song, đến các điểm chợ trên địa bàn tỉnh, không khó khăn lắm trong việc phát hiện nhiều thực phẩm, gia vị trong chế biến thực phẩm có chữ Trung Quốc nhưng không có chứng nhận nhập khẩu, như: Củ cải muối, phù nhủi, thạch, bánh kẹo, hoa quả v.v..

Với người sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm đã vậy, người tiêu dùng hiện nay cũng không chú trọng lắm đến nguồn gốc thực phẩm. Thậm chí, nhiều người còn cho rằng bánh, kẹo; thạch, gia vị nhãn mác chữ Trung Quốc có nhiều hương vị hơn, mẫu mã cũng phong phú hơn loại bánh kẹo, gia vị... sản xuất tại các công ty trong nước. Chính vì tiêu thụ được nên thực phẩm thẩm lậu càng có điều kiện lưu hành trên thị trường.

Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn, việc kiểm soát thực phẩm qua biên giới cần được chú trọng hơn nữa, nhất là với thực phẩm thẩm lậu. Và biện pháp quản lý tốt nhất chính là kiểm soát ngay từ đường biên, không để thực phẩm không rõ nguồn gốc đi sâu, phân tán trong nội địa.

Thu Nguyệt
,
.
.
.
.
.