.

Y tế tuyến xã ở TP Uông Bí: Đạt chuẩn đã khó, giữ chuẩn còn khó hơn

Cập nhật lúc 09:51, Thứ Hai, 22/08/2011 (GMT+7)
Với những nỗ lực tập trung đầu tư vào lĩnh vực y tế, đến năm 2009, tất cả các xã, phường trên địa bàn Uông Bí đã đạt chuẩn quốc gia về y tế, về đích sớm so với các huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh. Mặc dù vậy, do nhiều trạm được xây dựng đã khá lâu nên hiện tại bị xuống cấp một cách đáng lo ngại. Thêm vào đó, số lượng bác sĩ tuyến xã ở Uông Bí khá thấp cũng làm ảnh hưởng đến công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn.

Khám bệnh cho người dân ở Trạm Y tế xã Điền Công (Uông Bí).
Khám bệnh cho người dân ở Trạm Y tế xã Điền Công (Uông Bí).
Để thực hiện lộ trình đạt chuẩn, Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Uông Bí liên tục được củng cố, kiện toàn; công tác truyền thông giáo dục sức khỏe được coi trọng. Đặc biệt, thành phố luôn chú trọng công tác vệ sinh phòng bệnh trong cộng đồng. Các xã trên địa bàn đều thành lập tổ thu gom rác sinh hoạt của người dân, các trạm y tế tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người dân thu gom, xử lý rác thải; phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh để phòng chống dịch. Đến nay, 70-80% hộ dân trên địa bàn thành phố đã được sử dụng nước máy sinh hoạt... Nhờ vậy, tình hình dịch bệnh trên địa bàn thành phố nhiều năm nay luôn ổn định, không có dịch lớn xảy ra. Các dịch nhỏ được xử lý, khống chế, dập tắt kịp thời.

Với chức năng, nhiệm vụ của mình, các trạm y tế trên địa bàn Uông Bí còn thực hiện có hiệu quả việc khám, chữa bệnh cho người dân, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, triển khai chương trình phục hồi chức năng tại cộng đồng. Đến nay, các Trạm đang quản lý, điều trị 219 bệnh nhân tâm thần tại cộng đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2011, các trạm y tế xã, phường trên địa bàn thành phố đã khám bệnh cho hơn 10.000 lượt người. Công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em ở Uông Bí luôn được chú trọng, tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đủ số vắc xin theo quy định của Bộ Y tế luôn đạt hơn 90%. Đặc biệt, các trạm y tế trên địa bàn rất quan tâm, thực hiện tốt các hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản, đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa các phương pháp kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc thai sản… Trong 6 tháng đầu năm 2011, thành phố có hơn 870 bà mẹ sinh con. Tất cả các sản phụ đều được quản lý, chăm sóc, được cán bộ y tế đỡ đẻ; hơn 5.800 lượt phụ nữ được khám phụ khoa…

Ngoài những mặt thuận lợi, khó khăn lớn nhất hiện nay đối với Uông Bí trong việc giữ vững chuẩn quốc gia về y tế xã chính là đảm bảo tiêu chuẩn về cơ sở vật chất như: Trạm y tế phường Vàng Danh, Trạm Y tế phường Bắc Sơn v.v... do xây dựng, sửa chữa lại từ nhiều năm trước nên đến nay đã xuống cấp, trong khi đó kinh phí duy tu, bảo dưỡng hàng năm rất hạn hẹp. Vừa qua, chỉ những xã có điều kiện mới vận động, dồn được nguồn lực để đầu tư cải tạo lại (như Trạm y tế xã Phương Đông), hay đầu tư xây mới thêm nhà trạm (như Trạm y tế xã Phương Nam v.v...). Ở Uông Bí không có xã nào nằm trong chương trình đầu tư năm 2010 của UBND tỉnh cho các trạm để đạt chuẩn quốc gia. Bởi vậy, hầu hết các trạm chỉ có các thiết bị y tế cơ bản chứ chưa có các thiết bị khác, như: máy siêu âm, điện tim… Không chỉ có vậy, Uông Bí còn gặp khó khăn về bác sĩ cho tuyến xã. Trong 7 xã, phường trên địa bàn, đến nay, thành phố mới chỉ có 3 bác sĩ tuyến xã nên công tác khám, chữa bệnh cho người dân phần nào cũng bị hạn chế. Nguyên nhân là do trước kia, thành phố tuyển nhân lực cho các trạm y tế chủ yếu lấy y tá nên không có người tham gia các lớp đào tạo bác sĩ do tỉnh phối hợp với Trường Đại học Y Hải Phòng tổ chức. Chỉ 2 năm nay, nhiều trạm trên địa bàn mới có y sĩ công tác. Trong năm 2010, Trung tâm y tế huyện đã cử 2 y sĩ đi học bác sĩ và năm nay có thêm 1 người ôn thi để học chuyên tu. Thời gian tới, Trung tâm tiếp tục tăng cường cử y sĩ đi học chuyên tu để đáp ứng nguồn nhân lực cho tuyến xã. Một khó khăn nữa ở Uông Bí là hoạt động của đội ngũ cộng tác viên y tế. Ở các thôn, khu trên địa bàn thành phố đều có lực lượng này, nhưng do quy định của nhà nước (cộng tác viên y tế ở khu phố thuộc các phường không được tiền hỗ trợ…) nên đa phần các phường phải lồng ghép cộng tác viên y tế với cộng tác viên xã hội. Tuy nhiên, do chỉ các cộng tác viên xã hội mới được hưởng tiền hỗ trợ nên hầu như các việc liên quan đến lĩnh vực y tế, trong đó có giám sát, nắm bắt tình hình dịch bệnh ở các khu phố, thường bị các cộng tác viên bỏ qua. Ngoài nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị v.v... trong quá trình giữ chuẩn quốc gia về y tế xã, các trạm y tế trên địa bàn còn hạn chế về chuẩn y học cổ truyền. Đội ngũ cán bộ y tế xã đã được tăng cường tập huấn, đào tạo kiến thức về y học cổ truyền, nhưng nhiều xã không có vườn thuốc nam hoặc có vườn, nhưng không được tu bổ, chăm sóc thường xuyên.

Những khó khăn trên khiến cho việc duy trì chuẩn quốc gia về y tế xã ở Uông Bí rơi vào tình trạng bấp bênh, và quan trọng nhất là chất lượng chăm sóc ban đầu cho người dân trên địa bàn phần nào bị ảnh hưởng. Bởi vậy, Uông Bí cần có sự đầu tư thêm để giữ vững thành quả chuẩn quốc gia về y tế mà thành phố đã phấn đấu đạt sớm so với nhiều địa phương khác trong tỉnh.

Thu Nguyệt
,
.
.
.
.
.