.

Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ đại hội đến đại hội

Cập nhật lúc 15:05, Thứ Tư, 22/09/2010 (GMT+7)
Chào mừng Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, hướng tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, để cung cấp thêm thông tin, tư liệu đáp ứng nhu cầu của cán bộ, đảng viên và nhân dân tìm hiểu về các kỳ Đại hội của Đảng bộ, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ninh biên soạn cuốn sách: "Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ Đại hội đến Đại hội".

Cuốn sách cung cấp tổng quan cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những thông tin có tính hệ thống và toàn diện về những sự kiện lịch sử trọng đại của Đảng bộ tỉnh qua các kỳ đại hội. Nội dung cuốn sách được trình bày thành ba phần:

Phần thứ nhất: Những nét khái quát về tỉnh Quảng Ninh và sự ra đời của Đảng bộ tỉnh.

Phần thứ hai: Khái lược thông tin các đại hội trước thời kỳ đổi mới (từ 1963 đến 1986).

Phần thứ ba: Khái lược thông tin các đại hội thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay).

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng chí cán bộ, đảng viên và bạn đọc.

                                                         Tháng 8 năm 2010
                              Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Quảng Ninh



 Phần I: những nét khái quát về tỉnh Quảng Ninh và Sự ra đời của Đảng bộ tỉnh

        Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Việt Nam có 2 thành phố, 2 thị xã và 10 huyện. Dân số Quảng Ninh tính đến 1/4/2009 là 1.144.381 người. Là tỉnh có vị trí chiến lược rất quan trọng về quốc phòng - an ninh, có đường biên giới trên đất liền và trên biển với Trung Quốc. Diện tích toàn tỉnh Quảng Ninh là 6.110km², phía Tây giáp tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Tây Nam giáp tỉnh Hải Dương và Thành phố Hải Phòng, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Địa hình đồi núi chiếm xấp xỉ 80%, tập trung ở phía Bắc. Biển Quảng Ninh có hơn 2000 hòn đảo, chiếm 2/3 số đảo cả nước. 

Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ, đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam. Quảng Ninh có hai Trung tâm thương mại lớn là Hạ Long và Móng Cái, là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam- Trung Quốc và các nước trong khu vực. Là một tỉnh có nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú, có di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 2 lần được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận và nhiều di tích lịch sử văn hóa: Yên Tử, bãi cọc Bạch Đằng, Đền Cửa Ông, Đình Quan Lạn, Đình Trà Cổ, núi Bài Thơ... Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch văn hóa tâm linh. Quảng Ninh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, là cửa ngõ quan trọng của hành lang kinh tế Nam Ninh-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh. Có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu có năng lực bốc xếp cho tàu hàng vạn tấn,... tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường biển giữa nước ta với các nước trên thế giới, có hệ thống cửa khẩu phân bố trên dọc tuyến biên giới, đặc biệt cửa khẩu quốc tế Móng Cái là nơi hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư, là cửa ngõ giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong khu vực.
Ngày 25-4-1955, Khu mỏ được hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ khu Hồng Quảng và Đảng bộ tỉnh Hải Ninh lãnh đạo nhân dân hai tỉnh bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh đã phối hợp chặt chẽ, hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ gìn trật tự trị an, tạo điều kiện cho công cuộc khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế ở địa phương. Tuy vậy, về mặt kinh tế, mỗi tỉnh có đặc điểm và ưu thế khác nhau, nhưng chưa hỗ trợ cho nhau cùng phát triển, nếu hợp nhất sẽ tạo thuận lợi cho kinh tế và quốc phòng cả vùng Đông Bắc phát triển đều hơn và nhanh hơn.
Xét thấy việc hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh thành một đơn vị hành chính có lợi hơn về kinh tế, quốc phòng. Đầu tháng 7 năm 1963, Ban Thường vụ Khu ủy Hồng Quảng và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Ninh đã tổ chức Hội nghị liên tịch bàn và nhất trí đề nghị Trung ương hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh thành một đơn vị hành chính. Hội nghị đã quyết định thành lập Ban chuẩn bị hợp nhất hai tỉnh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Bùi Thủy, Phó Bí thư Khu ủy Hồng Quảng và đồng chí Hoàng Chính, Bí thư Tỉnh ủy Hải Ninh.
Ngày 4-10-1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng có công văn gửi Ban Tổ chức Trung ương, Đảng đoàn Bộ Nội vụ, Văn phòng nội chính, Thủ tướng Chính phủ, Ban Thường vụ Khu ủy Hồng Quảng và Tỉnh ủy Hải Ninh về việc: "Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thống nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng làm một Tỉnh" để nghiên cứu kế hoạch thi hành.
Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, ngày 7 tháng 10 năm 1963, Ban Thường vụ Khu ủy Hồng Quảng và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Ninh họp Hội nghị liên tịch ra nghị quyết về việc hợp nhất Khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh. Nghị quyết nêu rõ: "Việc hợp nhất Khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh là một yêu cầu khách quan phù hợp hoàn toàn với lợi ích trước mắt và lâu dài của nhân dân 2 tỉnh, không những có lợi to lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa, dân tộc và cán bộ mà còn có lợi ích to lớn về mặt quân sự và quốc phòng". Hội nghị cũng dự thảo kế hoạch hợp nhất 2 tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng; kế hoạch giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về việc hợp nhất hai tỉnh.
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Hải Ninh và Khu ủy Hồng Quảng, Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Ninh và Hội đồng nhân dân khu Hồng Quảng đã tổ chức hội nghị thảo luận, nhất trí tán thành hợp nhất hai đơn vị hành chính thành một, lấy tên là tỉnh Hải Đông và đề nghị Trung ương phê duyệt.
Theo nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa II ngày 30 tháng 10 năm 1963, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ung Văn Khiêm thay mặt Hội đồng Chính phủ đọc tờ trình, đề nghị Quốc hội phê chuẩn việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một đơn vị hành chính mới.
Đồng thời với việc đề nghị hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một đơn vị hành chính, Bộ Nội vụ thay mặt Hội đồng Chính phủ xin trình Quốc hội phê chuẩn sáp nhập xã Hữu Sản thuộc huyện Đình Lập tỉnh Hải Ninh vào huyện Sơn Động tỉnh Hà Bắc.
Ngày 18-11-1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 85-NQ/TW, quyết nghị:
"1. Hợp nhất hai Đảng bộ Hồng Quảng và Hải Ninh thành một Đảng bộ là Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh.
2. Hợp nhất hai Ban Chấp hành Hồng Quảng, Hải Ninh vừa mới được Đại hội Đảng bộ hai nơi cử ra, thành Ban Chấp hành tỉnh Quảng Ninh.
3. Sau khi hợp nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh cần tăng cường công tác tư tưởng, ổn định tổ chức, thống nhất lề lối làm việc, bảo đảm chỉ đạo kịp thời, chặt chẽ các mặt công tác trong địa phương..."
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, ngày 12-12-1963, hai Ban Thường vụ đã họp Hội nghị liên tịch, dự thảo đề án công tác tổ chức thực hiện hợp nhất hai Đảng bộ thành một Đảng bộ là Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh. Hội nghị đã nhất trí phân công các đồng chí: Hoàng Chính phụ trách bộ phận nhân sự, Nguyễn Thanh Lương và Nguyễn Trung Quốc phụ trách công tác tư tưởng. Đồng chí Hoàng Chính và Bùi Thủy chuẩn bị dự thảo nhiệm vụ và lề lối làm việc. Các đồng chí Lý Bạch Luân, Đào Bính dự thảo phương hướng nhiệm vụ năm 1964. Về công tác trị an, Hội nghị giao cho hai Ban Thường vụ cùng chuẩn bị. Hội nghị chỉ rõ phương châm thực hiện hợp nhất là: Khẩn trương tích cực, thận trọng, có kế hoạch từng bước, không để ảnh hưởng tới công tác trước mắt, cố gắng tránh xáo trộn không cần thiết.
Ngày 19/12/1963, Khu ủy Hồng Quảng và Tỉnh ủy Hải Ninh tiến hành Hội nghị hợp nhất thành Tỉnh ủy Quảng Ninh. Đồng chí Nguyễn Thọ Chân được Ban Bí thư chỉ định là Bí thư Tỉnh ủy.
Cùng với việc hợp nhất hai Đảng bộ, các cơ quan Nhà nước ở hai tỉnh cũng lần lượt được hợp nhất thành một.
 Quá trình hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh diễn ra thuận lợi, đảm bảo sự đoàn kết thống nhất trong nội bội Đảng và toàn thể nhân dân, xây dựng và củng cố lòng tin tuyệt đối của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thắng lợi đó là tiền đề cho Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh vững bước thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới.


 Phần II: Khái lược thông tin các đại hội trước thời kỳ đổi mới (từ 1963 - 1986)

1. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ I (1969 - 1971) 

Từ ngày 02 đến ngày 06 tháng 10 năm 1969, tại Hội trường Giao Tế - Bãi Cháy, Thị xã Hòn Gai, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ nhất được khai mạc.
Dự Đại hội có 274 đại biểu chính thức, 13 đại biểu dự khuyết, đến từ 44 Đảng bộ trực thuộc trong toàn tỉnh. Đại hội còn có 29 đại biểu dự thính.
Đại hội đã đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ kể từ ngày thành lập tỉnh. Báo cáo Chính trị đã nhấn mạnh và biểu dương tinh thần chịu đựng gian khổ, vững tin ở Đảng và dám hy sinh tất cả vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội của quân và dân tỉnh nhà. Nhờ đó chúng ta đã giành được nhiều thành tích to lớn và toàn diện, đã được Quốc hội, Chính phủ và Hồ Chủ tịch khen thưởng với phần tưởng cao quý là Huân chương Độc lập hạng Nhất.
Đại hội đã kiểm điểm, chỉ ra những thiếu sót tồn tại của công tác xây dựng Đảng, các mặt sản xuất, chiến đấu, phát triển văn hóa, tổ chức đời sống.
Trên cơ sở phân tích sâu sắc đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, Đại hội khẳng định: Tỉnh có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, đối ngoại quốc phòng, an ninh. Chúng ta phải thấy hết ý nghĩa quan trọng của vấn đề bảo vệ kinh tế, bảo vệ bờ biển và giữ gìn an ninh biên giới, hải đảo".

a
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ I.

Đại hội đề ra nhiệm vụ chung là: "Với tinh thần cách mạng tiến công, tinh thần tự lực tự chủ, chúng ta quyết tâm xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh có trung tâm công nghiệp quan trọng của cả nước, có công nghiệp Trung ương lớn mạnh và hiện đại, có kinh tế địa phương phát triển phong phú và toàn diện, có nền văn hóa, khoa học và kỹ thuật phát triển. Tăng cường lãnh đạo phát triển sản xuất công nghiệp than để đảm bảo yêu cầu về sản lượng ngày càng lớn; phát triển mạnh công nghiệp địa phương và nông nghiệp đảm bảo nhu cầu ngày càng tăng nhanh về mọi mặt sản xuất, đời sống, du lịch và quốc phòng; đẩy mạnh ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng về khoa học - kỹ thuật và cách mạng về văn hóa tư tưởng. Đó là hành động cách mạng thiết thực để góp phần tích cực xây dựng hậu phương và chi viện cho tiền tuyến nhằm "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội".
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 34 ủy viên, trong đó có 32 ủy viên chính thức và 02 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Đức Tâm được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy; các đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Hải được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.

2. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ II (1971 - 1974)

Từ ngày 26 đến ngày 31 tháng 12 năm 1971, tại Hội trường Giao tế - Bãi Cháy, Thị xã Hòn Gai đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ II.
Dự Đại hội có 296 đại biểu, trong đó 271 đại biểu chính thức, 25 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 27.870 đảng viên trong tỉnh, tiêu biểu cho sự tập trung trí tuệ và tinh thần đấu tranh anh dũng, lao động cần cù, sáng tạo của Đảng bộ.
Về tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị 2 năm 1970 - 1971, Đại hội khẳng định: Hai năm qua, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã đoàn kết phấn đấu, quyết tâm khắc phục khó khăn thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất đạt được nhiều kết quả tốt, phong trào chung trong tỉnh trên một số mặt đã có chuyển biến mới, đời sống nhân dân được ổn định. Nền kinh tế tỉnh ta trên nhiều mặt đang có đà đi lên...
Song Đại hội cũng chỉ ra những tồn tại, hạn chế, những mặt còn yếu cần khắc phục: Tốc độ tăng trưởng trong sản xuất còn chậm, có mặt trì trệ, năng suất lao động thấp, phẩm chất hàng hóa kém; Trật tự trị an xã hội nhiều mặt chưa tốt; chỉ đạo thực hiện 3 cuộc cách mạng còn nhiều lúng túng.
Nguyên nhân của tồn tại đó: Trước hết là nhận thức trong lãnh đạo, chưa lường hết được khó khăn của việc chuyển hướng kinh tế từ thời chiến sang khôi phục và phát triển; chưa thấy đầy đủ và sâu sắc vấn đề từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; thực hiện công tác quản lý kinh tế, đánh giá và sử dụng tiềm năng, thế mạnh của từng ngành, từng vùng chưa đầy đủ. Công tác tư tưởng và tổ chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị. Việc tổ chức và chỉ đạo thực hiện yếu, thiếu cụ thể, chưa phát huy tác dụng của đòn bẩy kinh tế.
Căn cứ nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị 19 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đại hội đã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm trong 2 năm 1972- 1973 và ra lời kêu gọi: toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tỉnh ta tăng cường đoàn kết, quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt nghị quyết Đại hội góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp đánh thắng đế quốc Mỹ và hoàn thành tốt kế hoạch 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa.
Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa mới gồm 35 ủy viên, trong đó 33 ủy viên chính thức và 02 ủy viện dự khuyết. Ban Thường vụ gồm 9 đồng chí, đồng chí Nguyễn Đức Tâm tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy; các đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Hải được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.

3. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ III (1974 - 1976)

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ III diễn ra từ ngày 11 đến ngày 15-01-1974 tại Hội trường Giao Tế - Bãi Cháy, Thị xã Hòn Gai.
Dự Đại hội có 286 đại biểu, trong đó có 260 đại biểu chính thức, 26 đại biểu dự khuyết.
Từ Đại hội lần thứ II đến Đại hội lần thứ III, tình hình có nhiều chuyển biến: Từ quý II năm 1972, đế quốc Mỹ đánh phá trở lại miền Bắc nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng với quy mô lớn, mức độ tàn bạo hơn. Đảng bộ tỉnh đã tập trung chỉ đạo quân và dân trong tỉnh tổ chức chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chuyển hướng sản xuất và công tác cho phù hợp với điều kiện, yêu cầu của cuộc kháng chiến. Từ đầu năm 1973, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã giành được thắng lợi to lớn, Hiệp định Pa-ri được ký kết. Đảng bộ tỉnh đã nhanh chóng lãnh đạo chuyển hướng sản xuất, chuyển hướng chỉ đạo công tác.
Về nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước, Đại hội nhận định: Đảng bộ tỉnh ta đã kịp thời triển khai công tác phòng không sơ tán, nhanh chóng tổ chức lực lượng chiến đấu và chuyển hướng các mặt công tác, sản xuất. Quân dân tỉnh ta đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng ngay từ trận đầu. Trong chiến tranh ác liệt, xuất hiện nhiều đơn vị và cá nhân tiêu biểu cho tinh thần ngoan cường chiến đấu và bám trụ sản xuất.
Đại hội đề ra những nhiệm vụ trong 2 năm 1974 - 1975, động viên toàn Đảng bộ ra sức khắc phục mọi khó khăn, chịu đựng gian khổ, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh đẩy mạnh tốc độ khôi phục, phát triển kinh tế, phát triển văn hóa...
Ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân kết hợp với phát triển kinh tế. Tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang tiến lên trình độ cao hơn, tăng cường rèn luyện tinh thần cảnh giác, sẵn sàng ứng phó với tình hình khi có những diễn biến phức tạp. Tăng cường công tác trật tự an ninh chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp. Làm đầy đủ nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc và chi viện cho chiến trường.
Tăng cường xây dựng chính quyền, phát huy hiệu lực bộ máy quản lý Nhà nước và pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc chỉ đạo, quản lý kinh tế, quản lý và cải tạo xã hội, quản lý nhà nước; phát động phong trào cách mạng sôi nổi của quần chúng, thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của quần chúng.
Xây dựng Đảng bộ vững mạnh, tăng cường rèn luyện giáo dục và bồi dưỡng cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực tổ chức thực hiện, đặc biệt là năng lực chỉ đạo và quản lý kinh tế. Ra sức củng cố tổ chức cơ sở đảng, phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng; khẩn trương đào tạo cán bộ, trước hết là cán bộ chỉ đạo ở cơ sở, cán bộ quản lý kinh tế.

a
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ III.

Đại hội đề ra các chỉ tiêu cụ thể:
- Đến năm 1975, tổng sản lượng lương thực trên 10 vạn tấn; mức ăn bình quân của nông dân 17kg/người/tháng; đàn lợn (1/10/1975) khoảng 19 vạn con.
- Trồng rừng năm 1974: 14.000 ha; năm 1975: 17.000 ha.
- Sản lượng cá biển năm 1974: 14.000 tấn, năm 1975: 16.000 tấn
- Tỷ lệ học sinh đạt ít nhất 20% dân số, miền núi và hải đảo đạt từ 17% trở lên; phấn đấu phổ cập vỡ lòng, cấp I đúng độ tuổi cho miền xuôi và phần lớn ở miền núi, phát triển mạnh cấp II, cấp III phổ thông.
- Giảm tỷ lệ sinh xuống 2,7%.
Đại hội bầu ủy viên Ban Chấp hành khóa III gồm 40 đồng chí, trong đó có 32 ủy viên chính thức và 8 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Đức Tâm tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Hải được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.

4. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IV (1976)

Từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 4 năm 1976, tại Hội trường Giao Tế - Bãi Cháy, Thị xã Hòn Gai, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IV được khai mạc.
Dự Đại hội có 316 đồng chí (trong đó có 287 đại biểu chính thức và 29 đại biểu dự khuyết), thay mặt cho 27 nghìn đảng viên và 34 Đảng bộ trực thuộc tỉnh.
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV là Đại hội phát huy khí thế chiến thắng đế quốc Mỹ trong cả nước. Một giai đoạn mới của cách mạng nước ta mở đầu "Giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước". Đại hội tiêu biểu cho trí tuệ, truyền thống đấu tranh anh dũng, truyền thống lao động quên mình, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, thể hiện ý chí quyết tâm "Biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu thành chủ nghĩa chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong xây dựng hòa bình" của cán bộ, đảng viên, công nhân, nhân dân lao động và đồng bào các dân tộc trọng tỉnh
Đại hội đại biểu lần IV đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho nhiệm kỳ 2 năm 1976 - 1977 là: "Phải cố gắng rất lớn để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cơ sở". "Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng về khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa. Trong đó, cách mạng về khoa học - kỹ thuật là "then chốt" nhằm khai thác tốt khả năng, tài nguyên, sức lao động, vật tư thiết bị hiện có để đẩy mạnh tốc độ phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp địa phương theo hướng tiến lên sản xuất xã hội chủ nghĩa; đồng thời phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, cải thiện một bước đời sống nhân dân; không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội".
Với phương hướng trên, Đại hội đề ra nhiệm vụ trong hai năm 1976 - 1977 là:
1. Động viên toàn Đảng bộ phát huy khí thế cách mạng của người chiến thắng, tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng kinh tế với tốc độ nhanh, mạnh, vững chắc, tạo cơ sở bước đầu để phát triển kinh tế với quy mô lớn trong những năm sau; đồng thời tăng cường các mặt quản lý, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng nhanh tích lũy, phát triển văn hóa, nâng cao đời sống nhân dân lên một bước.
2. Xây dựng kinh tế kết hợp chặt chẽ với củng cố quốc phòng, bước đầu tạo cơ sở quốc phòng vững mạnh cả về kinh tế, chính trị, quân sự. Thường xuyên rèn luyện tinh thần cảnh giác cách mạng, bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự xã hội.
3. Xây dựng Đảng bộ có tư tưởng cách mạng triệt để trong sạch về chính trị, vững mạnh về tổ chức. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Tăng cường rèn luyện, giáo dục và bồi dưỡng cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực tổ chức thực hiện, nhất là về năng lực chỉ đạo, quản lý kinh tế. Coi trọng củng cố tổ chức cơ sở Đảng, phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo của các tổ chức Đảng. Kiện toàn cấp huyện để đủ sức lãnh đạo kinh tế trong giai đoạn mới.
4. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy chức năng của bộ máy Nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc quản lý Nhà nước, chỉ đạo quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Phát động phong trào cách mạng sôi nổi của quần chúng thi đua lao động sản xuất cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa IV gồm 39 đồng chí (trong đó 33 ủy viên chính thức và 6 ủy viên dự khuyết).
Đồng chí Nguyễn Đức Tâm tiếp tục được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm, đồng chí Nguyễn Thi được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.

5. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ V vòng I (1976 - 1977)

Từ này 14 đến ngày 22 tháng 11 năm 1976, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ V (vòng I) diễn ra tại thị xã Hòn Gai.
Đại hội đã nghe giới thiệu, thảo luận tham gia ý kiến vào bản Đề cương báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và bản Dự thảo Điều lệ (sửa đổi) của Đảng sẽ được trình tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV sắp tới. Đại hội đã tập trung trí tuệ của đông đảo đảng viên ở cơ sở, các ngành, các địa phương. Đại hội nhất trí cao với đánh giá tình hình và đường lối, nhiệm vụ nêu trong bản Đề cương báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng.
Đại đa số các ý kiến phát biểu đã phân tích bổ sung, làm sáng tỏ thêm những vấn đề cụ thể, nhất là những vấn đề liên quan đến các ngành, các địa phương, các đơn vị.
Đại hội bầu 25 đại biểu thay mặt Đảng bộ tỉnh đi dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, trong đó có 6 đồng chí được Trung ương Đảng cử về dự Đại hội và ứng cử đại biểu đi dự Đại hội lần thứ IV của Đảng đã trúng cử với số phiếu cao.

6. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ V vòng II (1977 - 1980)

Ngày 20 tháng 4 năm 1977, Đại hội đại biểu toàn tỉnh lần thứ V (vòng (II) diễn ra tại Hội trường Giao tế - Bãi Cháy, Thị xã Hòn Gai. Đây là Đại hội mở đầu giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng Quảng Ninh thành tỉnh giàu mạnh theo tinh thần nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng. Dự Đại hội có 500 đại biểu các huyện, thị, Đảng bộ trực thuộc tỉnh.
Trong không khí hân hoan của Đại hội, đồng chí Nguyễn Đức Tâm, ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy thay mặt đoàn đại biểu tỉnh dự Đại hội lần thứ IV của Đảng báo cáo về quá trình diễn biến của Đại hội và truyền đạt một số nội dung cơ bản của Nghị quyết Đại hội IV của Đảng để trên cơ sở đó Đại hội bàn bạc, quyết định phương hướng nhiệm vụ của địa phương trong hai năm 1977 - 1978.
Đại hội thông qua Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về kiểm điểm tình hình công tác năm 1976, phương hướng, nhiệm vụ và một số biện pháp chủ yếu trong 2 năm 1977 - 1978: "Từng bước đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đưa nền sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, vật liệu xây dựng tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc theo hướng đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trên cơ sở sử dụng tốt nhất sức lao động, đất đai, tài nguyên của địa phương; đồng thời ra sức phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, cải thiện một bước đời sống của nhân dân; không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng, củng cố quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội".
Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế địa phương trong kế hoạch 5 năm (1976 - 1980) của tỉnh là: "Tập trung cao độ của cả tỉnh, của các cấp, các ngành tạo ra một bước phát triển vượt bậc trong nông nghiệp cả về lương thực và thực phẩm; đồng thời phát triển lâm nghiệp, ngư nghiệp với tốc độ nhanh; đẩy mạnh phát triển công nghiệp địa phương (kể cả tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp) theo hướng phát triển thật nhanh vật liệu xây dựng sành, sứ và các mặt hàng tiêu dùng khác nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách về đời sống của nhân dân, tăng nhanh hàng xuất khẩu, góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu 10 triệu tấn than sạch, 5 tỷ KW giờ điện của cả nước. Phân bố lại lực lượng lao động xã hội, tăng năng suất lao động. Củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất phát triển; tăng công tác quản lý; xây dựng một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế; tiến hành mạnh mẽ công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng con người mới - con người xã hội chủ nghĩa và gia đình văn hóa".
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, trong 2 năm tới "Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt coi trọng giáo dục cho cán bộ, đảng viên quán triệt sâu sắc đường lối Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V. Tích cực rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực của cán bộ, đảng viên. Phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, tính tiên phong gương mẫu của đảng viên, chú trọng phát triển đảng viên mới thông qua phong trào cách mạng của quần chúng. Kịp thời đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa biến chất và những người không còn đủ tư cách đảng viên. Tích cực đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng tốt cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ theo yêu cầu của giai đoạn mới. Kiện toàn và nâng cao năng lực chỉ đạo của các cấp ủy Đảng gắn liền với việc nâng cao năng lực chỉ đạo thực hiện của các cơ quan Nhà nước và việc kiện toàn các đoàn thể quần chúng"...
Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa V gồm 39 đồng chí trong đó 37 đồng chí ủy viên chính thức và 2 đồng chí là ủy viên dự khuyết.
Sau Đại hội, ngày 26 tháng 4 năm 1977, Ban Chấp hành mới của Đảng bộ tỉnh khóa V đã họp phiên đầu tiên cử ra Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư, các Phó Bí thư...
Đồng chí Nguyễn Đức Tâm tiếp tục được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm, Nguyễn Thi được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.

7. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ VI (1980 - 1982)

Từ ngày 12 đến ngày 15-5-1980, tại Hội trường Giao Tế - Bãi Cháy - Thị xã Hòn Gai, diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ VI.
Dự Đại hội có 313 đại biểu (trong đó có 301 đại biểu chính thức và 12 đồng chí đại biểu dự khuyết).
Đại hội hoàn toàn tán thành nội dung bản Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về kiểm điểm tình hình ba năm 1977, 1978, 1979 và phương hướng nhiệm vụ 2 năm 1980 - 1981.
Đại hội nhận định: Ba năm qua trong tình hình có nhiều khó khăn; thiên tai liên tiếp,... Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, giành được những thắng lợi quan trọng trên các mặt chiến đấu, sản xuất, đời sống...
Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho 2 năm 1980 - 1981 là: "Phải thấu suốt đường lối, chủ trương của Đảng, ra sức đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm và ổn định đời sống; tăng cường công tác quốc phòng - an ninh, chuẩn bị chu đáo mọi mặt cho sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc; kiên quyết đấu tranh khắc phục những mặt tiêu cực trong hoạt động kinh tế và trong xã hội, nhất là mặt tiêu cực trong hoạt động kinh tế và trong xã hội, nhất là tệ ăn cắp, hối lộ, ức hiếp quần chúng; đồng thời tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho những năm sau.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong tỉnh phát huy truyền thống đoàn kết chiến đấu, anh dũng vượt lên, vượt qua khó khăn trước mắt với tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực, tự cường, thực hiện tốt nhất hai nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc biên giới, vùng trời, vùng biển của tỉnh, xây dựng tỉnh Quảng Ninh thành một đơn vị chiến lược vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng. Từng bước cùng các ngành kinh tế ở Trung ương xây dựng một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp thích hợp với điều kiện tỉnh nhà để đẩy mạnh sản xuất, tăng nhanh hàng xuất khẩu, thực hiện hậu cần tại chỗ ngày càng nhiều cho quốc phòng, cho ngành than và các ngành kinh tế Trung ương phát triển, cho đời sống nhân dân..."
Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa VI gồm 43 đồng chí (trong đó 41 đồng chí ủy viên chính thức và 2 đồng chí ủy viên dự khuyết).
Đồng chí Nguyễn Đức Tâm tiếp tục được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Phạm Hoành, Nguyễn Thi được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy. Cuối năm 1980, đồng chí Nguyễn Đức Tâm chuyển công tác lên Trung ương, đồng chí Nguyễn Thi làm Bí thư Tỉnh ủy, sau đó đồng chí Nguyễn Thi bị bệnh nặng, đồng chí Lê Đại được cử làm Bí thứ Tỉnh ủy (từ tháng 5 - 1982).

8. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ VII vòng I (1982 - 1983)

Từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 1 năm 1982, Tại Hội trường Khách sạn Vườn Đào - Bãi Cháy - Thị xã Hòn Gai, diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ VII (vòng I)
Tham dự Đại hội có 352 đại biểu, của 14 huyện, thị, đảng bộ trực thuộc, thay mặt cho gần 3 vạn đảng viên trong toàn Đảng bộ.
Đại hội tập trung nghiên cứu toàn văn các Văn kiện dự thảo của Trung ương chuẩn bị Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng. Đại hội nhấn mạnh: Đất nước ta đang ở trong tình thế vừa có hòa bình, vừa phải đối phó với chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, vì vậy cần tập trung nghiên cứu, thảo luận và làm rõ một số vấn đề: mối quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp, kinh tế Trung ương với kinh tế địa phương, kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế và chính sách ưu tiên đối với vùng biên giới, miền núi, hải đảo và công nhân các ngành: than, điện, địa chất...
Đại hội nhất trí cao với 4 mục tiêu và 10 nhiệm vụ và kế hoạch 5 năm 1981 - 1985 của chặng đường trước mắt phải tiến hành công nghiệp hóa chủ yếu là đưa  nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và xây dựng công nghiệp nặng.
Đại hội cũng thảo luận nhiều vấn đề như: Xây dựng cấp huyện, mối quan hệ giữa kinh tế Trung ương với kinh tế địa phương, về phát triển văn hóa, tăng cường phát động phong trào thi đua của quần chúng, công tác xây dựng Đảng..., Ngoài ra, Đại hội cũng dành nhiều thời gian nghiên cứu quán triệt Nghị quyết 11 của Ban Chấp hành Trung ương về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 1982.
Đại hội thống nhất bầu 22 đại biểu đại diện cho Đảng bộ tỉnh đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V.

9. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ VII vòng II (1983 - 1986)

Từ ngày 12 đến ngày 16-11-1983, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ VII (vòng II) diễn ra tại Khách sạn Vườn Đào - Bãi Cháy - Thị xã Hòn Gai. Dự Đại hội có 373 đại biểu (trong đó có 346 đại biểu chính thức và 27 đại biểu dự khuyết).
Đại hội tiến hành kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI về thực hiện xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, tổ chức đời sống; Công tác quốc phòng an ninh, đấu tranh chống tiêu cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, hoạt động của chính quyền, đoàn thể và phong trào cách mạng của quần chúng, công tác xây dựng Đảng và sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng.
Về phương hướng, nhiệm vụ ba năm 1983 - 1985, Đại hội chỉ rõ:
- Tập trung phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm, nghề rừng, nghề cá, hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng trên cơ sở khai thác tốt nhất tiềm năng về tài nguyên và lao động. Phấn đấu đến năm 1985 đạt 120 ngàn tấn lương thực, 15 ngàn tấn cá biển, 15 ngàn tấn rau, công nghiệp địa phương, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, đầu tư xây dựng cơ bản, văn hóa - xã hội, khoa học kỹ thuật. Đấu tranh loại trừ văn hóa phản động và bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội, xây dựng lối sống lành mạnh, tiết kiệm.
- Nêu cao cảnh giác, đoàn kết quân, dân, đoàn kết các dân tộc, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, hoàn thành nhiệm vụ, tiếp tục xây dựng làng chiến đấu và mỗi huyện thành pháo đài trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường hiệu lực của cơ quan chính quyền các cấp, phát huy mạnh mẽ vai trò của các đoàn thể và phong trào cách mạng trong quần chúng: nâng cao trình độ để đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, quản lý xã hội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tăng cường vận động, giáo dục quần chúng nhân dân đẩy mạnh sản xuất, làm tốt nghĩa vụ với Nhà nước. Quan tâm chỉ đạo và thực hiện nghiêm túc cuộc vận động chống tiêu cực. Coi trọng công tác kiểm kê, kiểm soát, khuyến khích phát triển các hình thức kiểm tra, thanh tra của quần chúng.
Làm tốt công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tăng cường công tác kiểm tra, công tác quy hoạch cán bộ, xây dựng củng cố tổ chức cơ sở Đảng.
Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân tập thể, trí thức xã hội chủ nghĩa, các lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc trong tỉnh tăng cường đoàn kết, phát huy truyền thống cách mạng kiên cường của công nhân vùng mỏ. Đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, tiết kiệm và bảo vệ Tổ quốc với khí thế sôi nổi, rộng khắp và bền bỉ, quyết tâm hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII, xây dựng tỉnh Quảng Ninh thành một tỉnh giàu đẹp và vững mạnh ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VII gồm 45 đồng chí (trong đó 43 đồng chí ủy viên chính thức và 02 đồng chí ủy viên dự khuyết). Đồng chí Lê Đại được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Phạm Hoành, đồng chí Nguyễn Văn Vấn được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.


Phần III: Khái lược thông tin các đại hội thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay)

1. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ VIII, Nhiệm kỳ 1986 - 1991

Từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 10 năm 1986, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh diễn ra tại Nhà văn hóa hữu nghị Việt - Nhật và Hội trường Khách sạn Vườn Đào - Bãi Cháy - Thị xã Hòn Gai.
Dự Đại hội có 489 đồng chí (trong đó có 450 đại biểu chính thức và 39 đại biểu dự khuyết), thay mặt cho gần 4 vạn đảng viên toàn Đảng bộ.
Đại hội kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI và lần thứ VII về các mặt: xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa, tổ chức đời sống; an ninh quốc phòng; công tác xây dựng chính quyền, công tác vận động quần chúng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, công tác xây dựng và sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng.

a
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ VIII (Từ 15 đến 20/10/1986).

Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu trong 5 năm 1986 - 1990 của tỉnh ta là: Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong tỉnh phải tăng cường đoàn kết, nêu cao lòng yêu nước, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và ý chí tự lực tự tường, đem hết tinh thần và lực lượng cùng toàn dân, toàn quân cả nước tiếp tục thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu 5 năm 1986 - 1990: phấn đấu tiến tới ổn định cơ bản tình hình kinh tế - xã hội, trước hết là ổn định và phát triển sản xuất than, góp phần ổn định thị trường giá cả, tài chính, tiền tệ; ổn định cung cấp lương thực, thực phẩm để cải thiện một bước đời sống của công nhân mỏ, lực lượng vũ trang và công nhân lao động; cố gắng thu xếp về cơ bản cho người đến tuổi lao động có việc làm; kiên quyết chống các hiện tượng tiêu cực và thiếu công bằng trong khâu phân phối; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng để đủ sức mạnh đánh thắng quân thù; xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh và làm tốt công tác quần chúng.
Phương hướng chung của kế hoạch 1986 - 1990: Tập trung sức đẩy mạnh sản xuất than, ngành kinh tế chủ đạo của tỉnh; phát triển nông nghiệp toàn diện, coi nông nghiệp thực sự là mặt trận hàng đầu của kinh tế địa phương; đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng. Nâng cao chất lượng quan hệ sản xuất mới và cơ chế quản lý mới, ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tiếp tục xây dựng một số cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu và hàng tiêu dùng. Củng cố, mở mang giao thông vận tải, Phát triển sự nghiệp văn hóa - xã hội theo hướng nâng cao chất lượng, xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, công nhân và nông dân tập thể, trí thức xã hội chủ nghĩa, các lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc trong tỉnh tăng cường đoàn kết, phát huy truyền thống kiên cường bất khuyết, anh hùng, khắc phục mọi khó khăn với tinh thần chủ động, sáng tạo, thi đua lập nhiều thành tích xuất sắc chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, quyết tâm hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa VIII gồm 57 ủy viên (trong đó 45 ủy viên chính thức và 12 ủy viên dự khuyết); Đại hội bầu 27 đại biểu đại diện cho Đảng bộ tỉnh đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Đồng chí Lê Đại được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy; các đồng chí Nguyễn Bình Giang, Đỗ Quang Trung được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy. Đến tháng 1-1987 đồng chí Nguyễn Bình Giang làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Trần Ngọc Thụ làm Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy.

2. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IX vòng I (1991)

Thực hiện Chỉ thị 59 và Chỉ thị 65 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về mở Đại hội các cấp và tổ chức góp ý kiến vào các Dự thảo Văn kiện Đại hội VII của Đảng, từ ngày 22 đến ngày 25-4-1991, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IX (vòng I) diễn ra tại Hội trường Khách sạn Vườn Đào - Bãi Cháy, Thị xã Hòn Gai.
Về dự Đại hội có 400 đại biểu thay mặt trên 4 vạn đảng viên toàn Đảng bộ.
Đại hội tập trung thảo luận và thống nhất các Dự thảo Văn kiện của Trung ương như: Vấn đề CNXH, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.
Đại hội khẳng định: Trước bối cảnh của tình hình quốc tế đang biến động phức tạp, việc xây dựng Cương lĩnh chính trị để thống nhất tư tưởng và hành động của toàn Đảng, toàn dân quyết tâm phấn đấu xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là rất cần thiết, thể hiện ý chí quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, kiên trì đi theo con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (vòng I) kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, giai cấp công nhân Vùng mỏ và đồng bào các dân tộc trong tỉnh tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, hăng hái thi đua lao động sản xuất, công tác, cùng với Đảng và Nhà nước tiếp tục vượt qua khó khăn thử thách, giải quyết những vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội, lập thành tích xuất sắc chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần IX (vòng II).
Đại hội bầu 25 đại biểu chính thức và 01 đại biểu dự khuyết thay mặt Đảng bộ tỉnh dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng.

3. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IX vòng II (1991 - 1996)

Từ ngày 22 đến ngày 26 tháng 10 năm 1991, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần IX (vòng II) diễn ra tại Hội trường Khách sạn Vườn Đào - Bãi Cháy - Thị xã Hòn Gai.
Dự Đại hội có 399 đại biểu của các Đảng bộ huyện, thị xã và các Đảng bộ trực thuộc tỉnh.
Đại hội đã đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hôi VIII của Đảng bộ và kiểm điểm việc thực hiện đổi mới trên các mặt công tác: Đổi mới kinh tế, thực hiện chính sách xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác xây dựng Đảng, hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Đại hội đã đề ra mục tiêu, phương hướng và thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2000 và liên doanh, liên kết; sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế; đẩy mạnh xuất khẩu để có ngoại tệ nhập vật tư, thiết bị cần thiết cho sản xuất và đời sống.
- Bảo đảm các chính sách xã hội, thực hiện dân chủ, công bằng, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, từng bước ổn định đời sống nhân dân. Kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh". Giải quyết những yêu cầu bức bách về y tế, giáo dục, văn hóa, nhất là đối với các vùng dân tộc, miền núi, biên giới, hải đảo. Giảm mạnh tỷ lệ tăng dân số.
- Giữ vững sự ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội để tiếp tục công cuộc đổi mới quan tâm đặc biệt đến các vùng xung yếu và địa bàn trọng điểm. Kết hợp chặt chẽ công tác an ninh - quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội; ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực.
Đại hội thông qua chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2000: "ổn định tình hình kinh tế - xã hội, nhanh chóng đưa nền kinh tế của tỉnh thoát ra khỏi tình trạng chậm phát triển, tạo được thế phát triển một cách vững chắc; xây dựng tỉnh nhà giàu mạnh, tăng nhanh khả năng tích lũy và cải thiện đời sống nhân dân; củng cố nền quốc phòng toàn dân, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội".

a
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa IX - Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (Từ ngày 15 đến 17 -3-1994).

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IX gồm 45 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Bình Giang được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Trần Ngọc Thụ, đồng chí Đỗ Quang Trung được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy (tháng 12-1992 đồng chí Đỗ Quang Trung chuyển công tác, tháng 3-1994 đồng chí Nguyễn Tất Dũng được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy).

4. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ X, Nhiệm kỳ 1996 - 2001

Từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 5 năm 1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X diễn ra tại Hội trường Nhà khách Uỷ ban nhân dân tỉnh. Tham dự Đại hội có 350 đại biểu thay mặt cho 4,2 vạn đảng viên đã về dự (trong đó 48 đồng chí là uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IX).
Đại hội đánh giá kiểm điểm những thành tựu đã được trên mọi mặt kinh tế, xã hội, văn hóa... cũng như những thiếu sót, tồn tại trong nhiệm kỳ Đại hội IX của Đảng bộ. Đại hội đã rút ra bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của nhiệm kỳ khóa IX: Phải nắm vững các quan điểm, đường lối, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Chính phủ; Luôn luôn nêu cao ý chí tự lực, tự cường; Phải luôn quan tâm củng cố quốc phòng, an ninh; làm tốt công tác vận động quần chúng; Phải thường xuyên củng cố tổ chức bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể...
Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: "Phát huy những thành tích đạt được, tiếp tục khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của địa phương, đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tranh thủ thời cơ, mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và du lịch, phát triển và tăng cường nguồn lực kinh tế, đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội; đổi mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất, tăng cường nguồn lực kinh tế, đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội; đổi mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất, tăng cường công tác quản lý và hoàn thiện quan hệ sản xuất, tăng cường công tác quản lý của các cấp chính quyền về kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị, từng bước nâng cao đời sống nhân dân và tạo điều kiện cho bước phát triển sau những năm 2000".

Mục tiêu cụ thể đến năm 2000

- Nhịp độ tăng trưởng kinh tế GDP hằng năm: 12 - 13% (khi có điều kiện đưa lên cao hơn).
- Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng bình quân hàng năm 13- 14%.
- Giá trị sản lượng nông nghiệp tăng 5%.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm 18 đến 20%
- Đưa tỷ trọng công nghiệp và du lịch, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế lên từ 85 đến 90%.
- Phấn đầu thu nhập sản phẩm xã hội GDP bình quân tính theo đầu người tăng gấp 2 lần (550 - 600 USD).
- Giảm tỷ lệ tăng dân số hàng năm bình quân 0,06%.
Đại hội khẳng định mục tiêu chiến lược lâu dài theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh ta là: "Phấn đấu đưa Quảng Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp và du lịch hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo nhiều việc làm cho người lao động, đời sống nhân dân ngày một nâng cao".
Trong 5 năm tới, phát triển toàn diện các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, nhưng lấy ngành công nghiệp và du lịch làm trọng tâm.

a
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh khóa X (Từ ngày 07 đến ngày 10 tháng 5 năm 1996).

Để thực hiện được phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu trên, Đại hội đã đề ra những giải pháp chủ yếu: Tận dụng khai thác các lợi thế về đất đai, tài nguyên, khoáng sản và điều kiện địa lý thuận lợi, huy động các nguồn vốn để tăng tỷ trọng cho đầu tư phát triển, từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, tăng thêm năng lực sản xuất cho các ngành kinh tế mũi nhọn. Tập trung cao độ phát triển nhanh kinh tế đối ngoại, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Chú trọng phát triển du lịch đồng bộ với các loại dịch vụ cho sản xuất và đời sống. Đẩy mạnh quản lý, khai thác kinh tế biển, nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghiệp mới trong các lĩnh vực kinh tế - xã hôi...
Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa X gồm 47 đồng chí và bầu 17 đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII.
Đồng chí Nguyễn Bình Giang dược bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Trần Ngọc Thụ, đồng chí Hà Văn Hiền được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy. Cuối tháng 12 năm 1996, đồng chí Hồ Đức Việt được Trung ương điều về làm Bí thư Tỉnh ủy. Đến ngày 24 tháng 8 năm 1998, đồng chí Trần Ngọc Thụ làm Bí thư Tỉnh ủy.

5. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI, Nhiệm kỳ 2001 - 2005

Từ ngày 10 đến 12 tháng 1 năm 2001, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI diễn ra tại Hội trường Nhà khách UBND tỉnh (thành phố Hạ Long). Tham dự Đại hội có 350 đại biểu (trong đó có 41 đại biểu đương nhiên), 309 đại biểu được bầu ra từ Đại hội các Đảng bộ trực thuộc, đại diện cho 5 vạn đảng viện toàn Đảng bộ.
Đại hội đã đánh giá khái quát kết quả sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986- 2000). Khẳng định những thành tựu Đảng bộ tỉnh đạt được trong 5 năm nhiệm kỳ khóa X và 15 năm đổi mới là rất to lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực khác; nghiêm túc chỉ ra những khuyết điểm, thiếu sót và rút ra 5 bài học kinh nghiệm qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng; đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2005 và định hướng phát triển đến 2010.
Đại hội đã thông qua Báo cáo kết quả tự phê bình và phê bình thực hiện Nghị quyết TW 6 (lần 2) và cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng; Báo cáo hoạt động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa X. Đại hội biểu quyết thông qua 29 vấn đề quan trọng trong Dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX.
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010, Đại hội khẳng định: Mười năm tới, Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh phải tập trung cao mọi nỗ lực để khai thác tốt hơn các tiềm năng, lợi thế, xây dựng Quảng Ninh phát triển với tốc độ ổn định và bền vững cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái; thực sự trở thành một địa bàn động lực và phát triển năng động gắn kết với các địa phương khác trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ.
Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 là:
Phát huy nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, vượt qua khó khăn thử thách để tiếp tục công cuộc đổi mới; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ vững sự tăng trưởng cao về kinh tế; tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; phát triển các ngành, các lĩnh vực, các sản phẩm có lợi thế và sức cạnh tranh; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghiệp; coi trọng phát huy nhân tố con người, chăm lo giải quyết các vấn đề bức xúc về việc làm, xóa đói giảm nghèo, tai nạn, tệ nạn xã hội; từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị; bảo đảm quốc phòng - an ninh, tạo tiền đề cần thiết cho giai đoạn phát triển tiếp theo của tỉnh.
Cơ cấu kinh tế của Tỉnh nhiệm kỳ 2001 - 2005 được xác định là: Công nghiệp, du lịch - dịch vụ và nông nghiệp.
Đại hội đề ra 8 nhiệm vụ cụ thể và các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu đến năm 2005:

- Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 12 - 13%;  Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16%; Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,3% - 5,5%; Các ngành dịch vụ tăng 15%; Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 15 - 20%; GDP bình quân tính theo đầu người năm 2005 tăng gấp 2 lần năm 2000.
- Về xã hội: Giảm tỷ lệ sinh bình quân hàng năm 0,05%, đến năm 2005 có tốc độ phát triển dân số 1,4%; Giải quyết việc làm hàng năm 2 - 2,1 vạn lao động; Xóa hộ đói, giảm hộ nghèo hàng năm 2,3% (tính theo tiêu chí mới).

a
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI (từ 10 đến 12-1-2001).

Đại hội bầu đoàn đại biểu gồm 16 chính thức và 02 dự khuyết đại diện cho toàn Đảng bộ đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XI gồm 46 đồng chí. Tại phiên họp thứ nhất Ban Chấp hành đã bầu Ban Thường vụ gồm 13 đồng chí, Đồng chí Hà Văn Hiền được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Văn Quynh được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.

6. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII, Nhiệm kỳ 2005 - 2010

Thực hiện Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 06 tháng 12 năm 2004 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, với sự chuẩn bị tích cực, khẩn trương và chu đáo, từ ngày 01 đến ngày 04 tháng 11 năm 2005, tại Trung tâm Tổ chức Hội nghị tỉnh đã diễn ta Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của toàn thể cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, nhân dân các dân tộc trong tỉnh, đặc biệt hơn khi tỉnh ta được Trung ương chọn là Đại hội điểm Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh.
Sau phiên họp trù bị, chiều ngày 01 tháng 11 năm 2005, đúng 8h ngày 02 tháng 11 năm 2005, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đã long trọng khai mạc. Dự Đại hội có 299 đại biểu chính thức, đại diện cho trên 6,1 vạn đảng viên toàn Đảng bộ tỉnh.
Đại hội đã nghe Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XI ; Báo cáo kết quả thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và kiểm điểm hoạt động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XI.
Đại hội đã thông qua phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp lớn phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 và báo cáo xây dựng Đảng.
Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát như sau: Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ và đồng bộ, động viên mọi nguồn lực để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; phấn đấu phát triển kinh tế với tốc độ cao, ổn định, bền vững, gắn kết với các lĩnh vực văn hóa - xã hội; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; bảo đảm quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; phấn đấu xây dựng Quảng Ninh thực sự trở thành một địa bàn động lực, phát triển năng động trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015.
Để thực hiện được mục tiêu tổng quát trên, Đại hội đã quyết định những chỉ tiêu chủ yếu, đó là:

- Chỉ tiêu về kinh tế: phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 13 - 14%/năm, trong đó công nghiệp tăng 19 - 20%/năm; nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,3 - 5,5%/năm; các ngành dịch vụ tăng 15 - 16%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng 15%/năm; năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 1.230 - 1.450 USD; cơ cấu kinh tế công nghiệp và xây dựng 54%; Nông, lâm, ngư nghiệp 4%; các ngành dịch vụ 42%.
- Chỉ tiêu về xã hội: Giải quyết việc làm mới hàng năm 2,4 vạn lao động; Giảm tỷ lệ hộ nghèo đến 2020 (tiêu chí mới) xuống: dưới 5%; giảm tỉ lệ sinh bình quân hàng năm 0,03%; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi năm 2010 còn dưới 20%; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 2010 xuống dưới 4,5%.
Chỉ tiêu về môi trường (đến năm 2010): Nâng tỷ lệ độ che phủ rừng lên 50%; tỷ lệ hộ nông dân được dùng nước sạch 75 - 80%; Đô thị có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường 60%.

a
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh khóa XII (Đại hội từ 1 đến 4-11-2005).

Đại hội đã đề ra 7 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hóa xã hội; quốc phòng an ninh; đối ngoại, xây dựng chính quyền; công tác Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; xây dựng Đảng.
Đại hội tán thành và thông qua Báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia vào Dự thảo các Văn kiện của Trung ương, dự thảo bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XII gồm 49 đồng chí; Bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X gồm 16 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết. Tại phiên họp thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XII, đã bầu ra 13 đồng chí tham gia Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Đồng chí Nguyễn Văn Quynh được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy, các đồng chí Nguyễn Duy Hưng, Vũ Nguyên Nhiệm được bầu làm phó Bí thư Tỉnh ủy.
Từ đầu nhiệm kỳ XII đến nay, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã thay đổi 3 đồng chí Bí thư: Đồng chí Nguyễn Văn Quynh được Trung ương điều động giữ chức vụ phó Ban Tổ chức Trung ương; đồng chí Nguyễn Duy Hưng được Ban Chấp hành bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Năm 2010, đồng chí Nguyễn Duy Hưng nghỉ công tác, Đồng chí Vũ Đức Đam được Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.
Sau gần 5 năm thực hiện Nghị quyết X của Đảng và Nghị quyết Đại hội XII Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, mặc dù gặp những khó khăn cả khách quan và chủ quan, song Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục gặt hái được nhiều kết quả khích lệ. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2006 đạt 13,78%, năm 2007 đạt 13,11%, năm 2008 đạt 12,5%. Năm 2009 tình hình kinh tế - xã hội Quảng Ninh tuy vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức nhưng tiếp tục có chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2009 đạt 10,3%, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Sản xuất công nghiệp phát triển; sản xuất nông nghiệp vượt qua được khó khăn, tiếp tục phát triển; khu vực dịch vụ duy trì mức tăng trưởng khá; thu ngân sách nhà nước tăng cao, chi ngân sách địa phương đáp ứng yêu cầu đề ra. Xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách có tiến bộ vượt bậc. Huy động vốn đầu tư phát triển tiếp tục tăng, trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước tăng cao nhờ tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương. Duy trì tốt trật tự trong khai thác, vận chuyển, kinh doanh than; giải quyết dứt điểm một số "điểm nóng" về đền bù giải phóng mặt bằng. Lĩnh vực văn hoá - xã hội được quan tâm, chất lượng dạy và học có chuyển biến; công tác chăm sóc sức khoẻ và nuôi dưỡng trẻ có chuyển biến. Chất lượng khám, điều trị và phòng chống dịch bệnh đạt kết quả. Đầu tư cho an sinh xã hội tăng cao, an sinh xã hội được đảm bảo. Cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo có chuyển biến tích cực; môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện. Chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững; quan hệ đối ngoại được tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng có sự đổi mới và tiến bộ; hệ thống chính trị ở cơ sở được củng cố. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và quy chế dân chủ ở cơ sở triển khai có kết quả tích cực.
Trong 6 tháng đầu năm 2010, kinh tế thế giới, trong nước và của tỉnh tuy đã có dấu hiệu hồi phục song còn yếu, lạm phát cao có nguy cơ quay trở lại; tình hình thời tiết, dịch bệnh diễn biến rất phức tạp; điện năng thiếu hụt...; việc huy động các nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông còn gặp nhiều khó khăn; các vấn đề về đảm bảo an sinh xã hội, môi trường sinh thái tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới đòi hỏi được giải quyết đồng bộ, tích cực hơn... Trong bối cảnh đó, Phát huy những kết quả đạt được trong năm 2009, ngay từ đầu năm 2010, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tranh thủ thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, nỗ lực phấn đấu, đảm bảo ổn định phát triển trên tất cả các lĩnh vực.
- Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP ước đạt 10,5% là mức tăng trưởng khá trong bối cảnh kinh tế vẫn còn chịu ảnh hưởng của suy thoái; giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp ước tăng 6%, vượt so với kế hoạch cả năm đề ra tăng 3,2%; sản xuất công nghiệp, xây dựng cũng có mức tăng trưởng khá, giá trị tăng thêm dự kiến tăng 10,7%; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đạt mức tăng kỷ lục (trên 2,1 tỷ USD), công tác đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước tiếp tục duy trì nhịp độ của năm 2009, toàn tỉnh đang phấn đấu hoàn thành kế hoạch giải ngân trong thời gian sớm nhất; các ngành dịch vụ có mức tăng trưởng khá, tổng mức lưu chuyển hàng hoá ước tăng 21,5% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng 25,9%; giá cả bước đầu được kiềm chế; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 65% dự toán năm và tăng 23%.
- Về chính trị - xã hội: Chính trị xã hội ổn định, an ninh quốc phòng giữ vững; quan hệ đối ngoại được tăng cường; việc làm của người lao động được quan tâm không có biến động phức tạp; công tác an sinh xã hội được các cấp, các ngành quan tâm chăm lo, đã tạo điều kiện cho 1.020 hộ thoát nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống còn 4,2% (giảm 0,26%) và nâng tỷ lệ dân nông thôn được dùng nước sạch lên 81% (tăng thêm 1%); công tác cải cách hành chính tiếp tục đẩy mạnh…
- Về Giáo dục: Quy mô trường, lớp, học sinh tiếp tục phát triển (tăng 19 trường so với năm học trước). Đến hết tháng 4/2010, toàn tỉnh đã có 167 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 35,0%, phấn đấu đến hết tháng 8/2010 toàn tỉnh sẽ có 225 trường đạt chuẩn quốc gia, bằng 47,1%. Đã xét hoàn thành chương trình lớp 5 cấp Tiểu học và lớp 9 THCS; tổ chức thành công kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2010 an toàn, nghiêm túc theo đúng tinh thần cuộc vận động “Hai không”;
- Về Y tế: Thực hiện chương trình Chuẩn quốc gia về Y tế xã được quan tâm, đến nay hầu hết các trạm Y tế (44 trạm) đã và đang được triển khai xây dựng, dự kiến sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng trước ngày 30/10/2010. Đã triển khai thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TU ngày 30/3/2010 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên, toàn tỉnh có 375 công trình với tổng mức đầu tư 649.333 triệu đồng; các công trình xây dựng phòng học thay thế phòng học cũ sẽ cơ bản hoàn thành trước 30/8/2010 để học sinh có phòng học khi bước vào năm học mới;
- Về an sinh xã hội: Công tác giải quyết việc làm, an sinh xã hội được đảm bảo, các hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách luôn được quan tâm hỗ trợ kịp thời. Tập trung chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra đẩy nhanh tiến độ hoàn thành hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo trên địa bàn tỉnh. Tính đến hết tháng 5/2010, đã đưa vào sử dụng 2.941 nhà, bằng 81,33%, đã giải quyết việc làm cho 13.932 người, đạt 51,98% kế hoạch (trong đó, xuất khẩu lao động được 176 người bằng 22% kế hoạch); đã giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống còn 4,2%.

          “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ đại hội đến đại hội” là cuốn tài liệu khái quát lại chặng đường lịch sử vẻ vang, đánh dấu quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ khi thành lập đến nay.
Qua 12 kỳ đại hội, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh luôn đoàn kết một lòng, anh dũng chiến đấu, hăng hái thi đua lao động sản xuất, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất, chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần vào đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Từ năm 1986 đến nay, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tiếp tục lãnh đạo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phát huy tinh thần đoàn kết, kỷ luật và đồng tâm, thi đua lao động sáng tạo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, đưa tỉnh Quảng Ninh phát triển theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Có được những kết quả và thành tích đáng tự hào đó, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã phải đối mặt và vượt qua không ít khó khăn, thử thách: việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội từ thời chiến sang thời bình, từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
          Trong bất cứ điều kiện và hoàn cảnh nào, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Quảng Ninh luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá và phân tích sâu sắc, thấu đáo những kết quả đạt được, chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm, trên cơ sở đó xây dựng các chiến lược, mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp phát triển phù hợp với từng thời kỳ và nhiệm vụ cách mạng, từ đó đưa Quảng Ninh vượt qua khó khăn, thách thức, tiến những bước vững chắc trên con đường xây dựng và phát triển.
          Tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đang tiếp tục phát huy truyền thống và những thành quả mà các thế hệ đi trước để lại, tiếp tục nỗ lực, đoàn kết một lòng, ra sức thi đua hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao. Phấn đấu xây dựng Quảng Ninh thực sự trở thành một địa bàn động lực, phát triển năng động trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hư­ớng hiện đại vào năm 2015, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.

,
.
.
.
.
.
.