.

Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015

Cập nhật lúc 21:31, Thứ Ba, 28/09/2010 (GMT+7)
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015.

TỈNH UỶ QUẢNG NINH                    ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 
              *                                  
 Hạ Long, ngày 15 tháng 9 năm 2010
     
Số 204 - BC/TU 
               

NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ,
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ; ĐOÀN KẾT,
ĐỔI MỚI, PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP,
XÂY DỰNG
QUẢNG NINH CƠ BẢN TRỞ THÀNH TỈNH
CÔNG NGHIỆP THEO
HƯỚNG HIỆN ĐẠI VÀO NĂM 2015

(Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015)
-----

Đảng bộ, nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã quyết tâm, sáng tạo thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII với kết quả nổi bật, toàn diện. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII có nhiệm vụ đánh giá toàn diện chặng đường 5 năm qua, đề ra những định hướng lớn để Đảng bộ, nhân dân trong tỉnh tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; đoàn kết, đổi mới, phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng Quảng Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XII

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đã xác định mục tiêu tổng quát giai đoạn 2005 - 2010 là: “Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ và đồng bộ, động viên mọi nguồn lực để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; phấn đấu phát triển kinh tế với tốc độ cao, ổn định, bền vững, gắn kết với các lĩnh vực văn hóa - xã hội; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị; bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; phấn đấu xây dựng Quảng Ninh thực sự trở thành một địa bàn động lực, phát triển năng động trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015”.
Năm năm qua, kế thừa và phát huy những thành tựu sau gần 25 năm đổi mới; được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hiệu quả, kịp thời của Trung ương với nhiều chủ trương, định hướng có tính chiến lược; Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã đoàn kết, nỗ lực, sáng tạo vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là tác động của suy giảm kinh tế thế giới và trong nước ảnh hưởng tới Quảng Ninh, nhiều dịch bệnh nguy hiểm, thiên tai xảy ra bất thường, tình trạng khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than trái phép bùng phát... ở nửa cuối nhiệm kỳ, để phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện.

I- NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC
1- Kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tiềm lực, quy mô nền kinh tế tăng mạnh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP theo giá so sánh) bình quân 5 năm ước đạt 12,7%; ( [1] ) q uy mô kinh tế (GDP tính theo giá so sánh) năm 2010 gấp 1,8 lần so với năm 2005. GDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) năm 2010 ước đạt 24.666 ngàn đồng, gấp 2,14 lần so với  năm 2005. ( [2] ) Tăng trưởng GDP của tỉnh cao gần gấp đôi so với bình quân chung cả nước và nằm trong nhóm các địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước.
Sản xuất công nghiệp tăng cao và ổn định. T ổng giá trị sản xuất ước tăng bình quân 15,8%/năm. Các lĩnh vực công nghiệp có lợi thế, có khả năng cạnh tranh (sản xuất than, vật liệu xây dựng, nhiệt điện chạy than, xi măng, cơ khí, đóng mới - sửa chữa tàu biển…) được đầu tư lớn, hiện đại, đã đem lại hiệu quả rõ rệt; đã hình thành rõ nét các trung tâm công nghiệp trên địa bàn. ( [3] ) Sản xuất công nghiệp phát triển đúng hướng, giảm tỷ trọng công nghiệp khai khoáng, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế tạo, chế biến. Ngành Than tăng trưởng vượt kế hoạch nhưng tỷ trọng giảm dần trong cơ cấu công nghiệp, cơ cấu GDP của tỉnh. ( [4] )
Sản xuất nông nghiệp ( [5] ) : Giá trị sản xuất tăng bình quân 6,7%/năm. ( [6] ) Đã đảm bảo an ninh lương thực vùng nông thôn; chú trọng phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo quy mô trang trại, mang tính hàng hoá; đẩy mạnh khai thác, nuôi trồng thủy sản theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X) về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020. Lâm nghiệp phát triển mạnh, khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, lao động và các nguồn vốn tham gia trồng, bảo vệ rừng, góp phần để nhân dân miền núi làm giàu từ rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 50% năm 2010. Quan tâm hỗ trợ nông dânkinh phí, kỹ thuật phòng chống, khắc phục thiên tai, dịch bệnh; tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhất là ở miền núi, hải đảo; làm tốt công tác chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu nhập trên một diện tích canh tác.
Kinh tế nông thôn tiếp tục có bước phát triển. Đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng nông thôn, nhất là hệ thống giao thông, điện, kênh mương, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, chợ, các thiết chế văn hoá; ( [7] ) quan tâm ứng dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề thủ công... góp phần phát triển sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo, từng bước xoá bỏ tập quán tự cấp, tự túc, mở rộng thị trường khu vực nông thôn. Diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống nông dân được cải thiện hơn.
Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Giá trị tăng thêm ước đạt 18,2%/năm. ( [8] ) Thương mại nội địa phát triển về chất, đồng thời mở rộng ở cả thành thị, nông thôn, miền núi, hải đảo. Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ tăng bình quân 19,1%/năm. Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu khá cao, kim ngạch xuất khẩu 5 năm ước đạt 8.589 triệu USD, tăng bình quân 19,3%/năm. ( [9] ) Mặc dù năm 2009, do tác động của suy giảm kinh tế thế giới, khách du lịch đến Quảng Ninh tuy có giảm, nhưng tổng lượng khách trong 5 năm ước đạt gần 21 triệu lượt khách, tăng bình quân 15,3%/năm; ( [10] ) đã bước đầu hình thành xu hướng toàn dân tham gia làm du lịch ở một số trung tâm du lịch lớn. Công tác tuyên truyền, vận động bầu chọn Vịnh Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên thế giới đạt kết quả. Dịch vụ vận tải đường bộ, đường thủy, hàng hải phát triển liên tục; sản lượng hàng hoá qua cảng thuỷ năm 2010 ước đạt 39 triệu tấn. ( [11] ) Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, hiện đại. ( [12] ) Hoạt động ngân hàng phát triển mạnh, tổ chức và mạng lưới, tiện ích được mở rộng; dư nợ vốn tín dụng tăng bình quân 37,5%/năm, cao hơn bình quân cả nước; nợ xấu thấp. Công tác bảo hiểm có bước phát triển, đảm bảo quyền lợi, chế độ cho người lao động, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch tích cực, đến năm 2010: nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 5,6%; công nghiệp - xây dựng 54,76%; dịch vụ 39,8%.([13] ) Đã tập trung khai thác lợi thế các khu vực đô thị phát triển năng động (thành phố Hạ Long, thành phố Móng Cái, thị xã Cẩm Phả, thị xã Uông Bí), kết hợp đầu tư kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn, giảm dần khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị.  
Công tác tài chính tiến bộ vượt bậc([14] ), đã chủ động điều hành thu, chi ngân sách, tăng cường quản lý, phân cấp quản lý, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ ngân sách địa phương. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm ước đạt 69.869 tỷ đồng, tăng bình quân 29,4%/năm,([15] ) là một trong 6 địa phương có số thu ngân sách cao nhất toàn quốc. Thu nội địa ước đạt 24.277 tỷ đồng, tăng bình quân 24,8%/năm. Tổng chi ngân sách 5 năm ước đạt 26.665 tỷ đồng, tăng bình quân 16,7%/năm. Đã tập trung đổi mới mạnh mẽ công tác phân bổ ngân sách theo hướng công khai, minh bạch, tăng chi đầu tư phát triển.
Huy động vốn đầu tư phát triển tăng cao . Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm ước đạt 139.382 tỷ đồng, tăng bình quân 28,2%/năm, ( [16] ) trong đó vốn ngân sách nhà nước tăng 17,5% nhưng giảm 3,5% so với 5 năm trước; ( [17] ) vốn doanh nghiệp tăng 31,6%, vốn dân cư tăng 8,9%, vốn FDI tăng 51,7%. Đ ã giải ngân 759 tỷ đồng vốn ODA, tăng hơn số vốn cam kết; cấp phép 66 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với số vốn đăng ký 3.380 triệu USD. Đặc biệt, vốn xây dựng cơ bản 2 năm cuối nhiệm kỳ tăng gần gấp đôi so với kế hoạch để tập trung đầu tư xây dựng các công trình thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân.( [18] )
  Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ( [19] ) được đặc biệt quan tâm đầu tư toàn diện. Đã đưa vào sử dụng Cầu Bãi Cháy, Cầu Bang, một số cầu vượt đường sắt, cầu treo dân sinh. T ập trung xây dựng, nâng cấp các tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh (Quốc lộ 18 đoạn Mông Dương - Móng Cái, đường 337, 329, đường 334, đường Trới-Vũ Oai…), chú trọng đầu tư phát triển giao thông tới khu kinh tế, cửa khẩu Bắc Phong Sinh, Hoành Mô và Khu công nghiệp Hải Hà, đường và hạ tầng các cảng biển, đường vành đai biên giới. Ưu tiên đầu tư đường liên xã, liên thôn, bản cho nhân dân, nhất là khu vực miền núi, hải đảo. Tiếp tục thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để bê tông hoá các tuyến đường trong các khu dân cư thuộc các đô thị, khu trung tâm. Chú trọng đầu tư các công trình thủy lợi, đặc biệt là hồ, đập chứa nước ngọt, đê ngăn mặn, kênh mương, trạm bơm vùng miền núi như: Hồ Đầm Hà Động, đê Bắc Cửa Lục, đê Hà Nam, đê Đông Yên Hưng...Phát huy kết quả đạt được của những năm trước, trong 2 năm 2009 - 2010 đã tập trung nguồn lực đầu tư nâng cấp, mở rộng qui mô các bệnh viện tuyến tỉnh, khu vực, huyện. 100% trạm y tế xã cơ bản hoàn thành các mục tiêu chuẩn quốc gia (về trước kế hoạch 5 năm). Cơ bản hoàn thành các mục tiêu về kiên cố hóa trường - lớp, nhà công vụ giáo viên, xóa phòng học tạm, phòng học 3 ca (về trước kế hoạch 2 năm) . Hoàn thành bàn giao lưới điện nông thôn cho ngành điện quản lý, phối hợp hỗ trợ kinh phí để ngành điện đầu tư điện lưới đến các thôn, bản vùng sâu, vùng xa của tỉnh.
Cơ cấu các thành phần kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, khu vực tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài phát triển ổn định. Tỷ lệ đóng góp của khu vực nhà nước vào GDP năm 2006 là 62,4%, năm 2010 là 61,7%; khu vực kinh tế tư nhân năm 2006: 28%, năm 2010: 28,9%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2006: 9,6%, năm 2010: 9,4%.
Các thành phần kinh tế phát triển , số doanh nghiệp thành lập mới cao gấp 2,2 lần, vốn đăng ký cao gấp 4,7 lần nhiệm kỳ trước. ( [20] ) Đã hoàn thành sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Quan tâm củng cố, phát triển kinh tế hợp tác với nòng cốt là hợp tác xã. Các hợp tác xã đã tạo việc làm cho 20% lao động (138.000 người), góp phần tích cực phát triển kinh tế, đặc biệt ở khu vực nông thôn, đóng góp 3,5% GDP của tỉnh. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực hiện 565 triệu USD, góp phần đổi mới công nghệ, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, phát triển kinh tế của tỉnh.
Các yếu tố kinh tế thị trường bước đầu hình thành, phát triển. Trên địa bàn tỉnh đã thành lập, đưa vào hoạt động bước đầu phát huy hiệu quả mạng lưới các chi nhánh và hệ thống các phòng giao dịch ngân hàng, đại lý đặt lệnh chứng khoán của các công ty chứng khoán; các chi nhánh công ty bảo hiểm trên các lĩnh vực; các sàn giao dịch, chợ phiên việc làm, trung tâm dịch vụ việc làm; sàn giao dịch nhà đất và các văn phòng tư vấn, giao dịch nhà đất… đã góp phần phát triển đồng bộ và lành mạnh hoá các loại thị trường trên địa bàn tỉnh. ( [21] )

2- Văn hoá - xã hội có bước phát triển mới, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao rõ rệt
Hoạt động văn hoá thông tin phát triển rộng khắp, góp phần tích cực, hiệu quả trong việc đưa thông tin về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, khoa học công nghệ, văn hóa trong nước và quốc tế, các phong trào thi đua, các tấm gương điển hình trong lao động, sản xuất đến đông đảo nhân dân. Tỷ lệ phủ sóng phát thanh - truyền hình đạt trên 95%; 100% thôn, bản có điện thoại và internet. Triển khai sâu rộng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá". Nhiều di tích lịch sử, văn hoá được bảo tồn, tôn tạo, nhiều lễ hội được phục dựng, phát triển theo hướng kết hợp truyền thống với hiện đại. Việc xây dựng các thiết chế văn hoá được quan tâm. Hoạt động văn học nghệ thuật có bước phát triển mới. Công tác quản lý, khai thác di tích, danh thắng được quy hoạch, sắp xếp, đầu tư qui mô, kết hợp hiệu quả văn hóa với du lịch; công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị Di sản Thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long được quan tâm, đạt kết quả.
Giáo dục - đào tạo phát triển, giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Giáo dục mầm non, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc được quan tâm mạnh mẽ. Hệ thống các trường nội trú phát huy hiệu quả, góp phần đào tạo, bổ sung cán bộ cho vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc. Xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh; đã thành lập, đưa vào hoạt động 1 trường đại học và 1 phân hiệu trường đại học, 1 trường trung cấp nghề; có thêm 419 nhóm trẻ, 62 trường mầm non, 700 lớp mẫu giáo tư thục, 10 trường trung học phổ thông ngoài công lập, 146 trung tâm học tập cộng đồng; 45% số trường của tỉnh đạt chuẩn quốc gia.
Công tác khuyến học, khuyến tài được quan tâm, có bước phát triển mạnh mẽ. Việc xây dựng xã hội học tập đạt kết quả tích cực; phong trào xây dựng gia đình hiếu học, dòng họ, đơn vị hiếu học phát triển mạnh, tạo điều kiện để mọi người dân có thêm cơ hội được học tập nâng cao hiểu biết, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chất lượng giáo dục - đào tạo tại các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật được nâng cao. Hàng năm, đào tạo mới  trên 30.000 sinh viên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật. Tổng số lao động qua đào tạo trên 318.000 người, chiếm 48%.
Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được đẩy mạnh, tập trung nghiên cứu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào những lĩnh vực trọng yếu, bức thiết và lâu dài, như công nghệ khai thác mỏ, cơ khí chế tạo, quản lý địa chính, cải cách hành chính, dịch vụ công, bảo vệ môi trường... Việc ứng dụng khoa học và công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành của nhà nước được triển khai tích cực, đạt kết quả. Khoa học - công nghệ đã thâm nhập vào hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội, cả khu vực hành chính, dịch vụ công đến các tổ chức chính trị xã hội và doanh nghiệp. Nhìn chung, khả năng tiếp cận, trình độ công nghệ của nền kinh tế và của xã hội được nâng lên, góp phần phục vụ tốt yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp. ( [22] )
Công tác y tế, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân ( [23] ) được quan tâm, thực hiện hiệu quả; đẩy mạnh y tế dự phòng, không để xảy ra dịch bệnh lớn trên địa bàn; củng cố, nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân. Tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, thiết bị, bác sĩ cho các cơ sở khám, chữa bệnh, y tế xã. Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình được củng cố, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 1,16%. Tăng cường kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuổi thọ bình quân người dân năm 2010 đạt 73,1 tuổi. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 18% (năm 2005: 24,3%); 96% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng đủ 7 loại vắc xin; 92% dân số được tiếp cận dịch vụ y tế; 100% xã, phường cơ bản hoàn thành các mục tiêu chuẩn quốc gia về y tế. Xã hội hoá hoạt động y tế đạt nhiều kết quả, đặc biệt đã huy động các nguồn lực cho đầu tư các bệnh viện chuyên khoa, trạm y tế xã.
Hoạt động thể dục thể thao phát triển: Cơ sở vật chất phục vụ được quan tâm; đã qui hoạch, đầu tư và chuẩn bị đầu tư nhiều thiết chế thể dục thể thao cấp tỉnh, huyện; thể thao quần chúng được duy trì, rộng khắp. Năm 2010, đạt tỷ lệ 23% dân số luyện tập thể dục thường xuyên, 13% số hộ là gia đình thể thao. Trong 5 năm qua, Quảng Ninh có 45 vận động viên kiện tướng, 64 vận động viên cấp I.
Công tác quản lý, bảo vệ môi trường sinh thái có nhiều tiến bộ. Các cơ sở, đơn vị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, một số vùng ô nhiễm do khai thác than và phát triển đô thị được tập trung xử lý, thực hiện không vận chuyển than trên tuyến quốc lộ. Đã tăng cường quy hoạch, đầu tư, hạn chế ô nhiễm không khí, nguồn nước và chất thải; chú trọng bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long. Quan tâm đầu tư thiết bị xử lý rác thải y tế ở tất cả các bệnh viện; tập trung quy hoạch, quan trắc, thẩm định đánh giá tác động môi trường các dự án đầu tư khu đô thị, khu du lịch, sản xuất than, khu dân cư. Bước đầu khắc phục tình trạng bùn, rác tại một số khu vực ven biển. Quan tâm huy động mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế, các tổ chức và nhân dân cho công tác bảo vệ môi trường, nhất là trong thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, dịch vụ hoả táng, quản lý nghĩa trang tại các khu đô thị, khu dân cư.
Quan tâm giải quyết, tạo nhiều việc làm mới.( [24] ) Đã giải quyết việc làm cho 13,06 vạn lao động; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm còn 4,3%. Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, nông nghiệp: 43%; công nghiệp - xây dựng: 23%; dịch vụ: 34% tổng số lao động. 
Huy động sức mạnh toàn xã hội để giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt quan tâm chăm lo cho người nghèo, đối tượng chính sách, nhân dân vùng khó khăn. Trong 5 năm 2006-2010, đã chi gần 2.000 tỷ đồng cho bảo đảm an sinh xã hội; cho trên 63.766 lượt hộ nghèo vay vốn với trên 408 tỷ đồng để đầu tư sản xuất, vươn lên thoát nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng, các địa phương đều giảm; tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 4,09%. ( [25] ) Đã quan tâm hỗ trợ hộ nghèo xoá nhà tạm, nhà dột nát. Đặc biệt, những năm cuối nhiệm kỳ đã tập trung xây dựng kiên cố 3.616 căn nhà cho hộ nghèo, về trước 2 năm so với chỉ đạo của Chính phủ (mức hỗ trợ của tỉnh cho 1 hộ gấp 2 lần mức hỗ trợ của Trung ương); ( [26] ) hỗ trợ kiên cố 194 nhà ở cho người nghèo khu vực đô thị; bước đầu triển khai đầu tư nhà ở cho người thu nhập thấp vùng đô thị; tập trung đầu tư phát triển lưới điện khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Công tác thương binh liệt sĩ, người có công, đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi, trợ giúp đối tượng chính sách được quan tâm. Tổ chức quản lý, giáo dục, dạy nghề, giải quyết việc làm cho trên 800 người nghiện ma tuý.

3- Quốc phòng, an ninh, công tác quản lý biên giới, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tăng cường; hoạt động đối ngoại phát triển
Tiếp tục xây dựng, củng cố vững chắc khu vực phòng thủ; thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, phối hợp giữa các lực lượng ngày càng chặt chẽ. Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội gắn củng cố quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Lực lượng vũ trang địa phương được quan tâm chăm lo xây dựng; phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được củng cố, phát triển sâu rộng. Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân được quan tâm và có nhiều đổi mới cả nội dung, hình thức.
Chủ quyền quốc gia tuyến biên giới trên bộ, trên biển được giữ vững. Hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc biên giới đất liền. An ninh chính trị tư tưởng, an ninh vùng tôn giáo, dân tộc, khu vực biên giới, biển đảo và nông thôn được giữ vững; trật tự an toàn xã hội đư­ợc bảo đảm. Tội phạm nghiêm trọng, tội phạm xuyên biên giới đều được điều tra, khám phá, không để hình thành tụ điểm phức tạp. Đã triển khai kiên quyết, đồng bộ các biện pháp ngăn chặn, xử lý tình trạng khai thác, tiêu thụ than trái phép. Các biện pháp quản lý nhà nước về trật tự xã hội, nhất là công tác quản lý người nước ngoài, đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, phòng chống tệ nạn ma tuý được tập trung chỉ đạo quyết liệt, có chuyển biến tích cực.
Hoạt động đối ngoại, mở rộng hợp tác trong và ngoài nước được đẩy mạnh. T ăng cường quan hệ, hợp tác với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và giải quyết tốt các vấn đề liên quan nên đã góp phần xây dựng tuyến biên giới ổn định, phát triển , góp phần củng cố quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc . Qu an hệ hợp tác phát triển giữa tỉnh Quảng Ninh với thành phố Hải Phòng và các địa phương trong Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Duyên Hải được tăng cường . Công tác đối ngoại nhân dân được chú trọng, cùng với hoạt động đối ngoại nhà nước, góp phần quảng bá hình ảnh Quảng Ninh, Việt Nam và tăng cường quan hệ hợp tác với các nước, đặc biệt là nước láng giềng.  

4- Nâng cao chất lượng bộ máy chính quyền các cấp, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động
Hội đồng nhân dân các cấp tích cực nâng cao hiệu quả hoạt động; kịp thời đề ra các chủ trương, chính sách phát triển trên các lĩnh vực; chủ động triển khai nhiệm vụ, có nhiều biện pháp kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Tăng cường giám sát việc thực thi pháp luật và công tác quản lý điều hành của cơ quan quản lý nhà nước các cấp, tập trung thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm, những vấn đề bức xúc dư luận xã hội và cử tri quan tâm. Chú trọng đổi mới công tác chuẩn bị nội dung, phương pháp tổ chức kỳ họp. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng giám sát trên các lĩnh vực, nâng cao hiệu quả công tác tiếp xúc cử tri.
Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện hiệu quả các nghị quyết của Trung ương, của cấp uỷ và Hội đồng nhân dân bằng chương trình, kế hoạch cụ thể. Uỷ ban nhân dân tỉnh tăng cường quan hệ chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương; hướng về cơ sở và tích cực phân cấp; vừa tập trung giải quyết nhiệm vụ bức thiết, vừa quan tâm nhiệm vụ lâu dài, như: Đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh viện, thiết chế văn hoá... Tăng cường tiếp xúc với doanh nghiệp, nhân dân để lắng nghe, kịp thời giải quyết yêu cầu, nguyện vọng chính đáng. Thực hiện hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tập trung giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc tồn đọng, bức xúc, kéo dài.
Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, cơ quan trong bộ máy chính quyền từ tỉnh xuống huyện, xã được điều chỉnh, sắp xếp theo đúng chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Cải cách hành chính([27] ) được đẩy mạnh. C ơ chế “một cửa”, "một cửa liên thông", đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính được thực hiện tích cực, bước đầu phát huy tác dụng; quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001-2000 được áp dụng trong hoạt động cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp.
Công tác cải cách tư­ pháp được quan tâm, có tiến bộ. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ với các cơ quan tư pháp, hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân các cấp được quan tâm. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện làm việc của các cơ quan tư­ pháp đư­ợc cải thiện. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được tăng cường. Các cơ quan tư pháp đã tập trung củng cố, kiện toàn bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp. Chất lư­ợng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, xử lý các vụ án điểm đư­ợc nâng lên. Sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chặt chẽ, chủ động, thường xuyên hơn. Chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có chuyến biến tích cực, nhìn chung đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đư­ợc nhiều sai sót, vi phạm. 
Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng được quan tâm chỉ đạo đạt kết quả. Nhiều văn bản, chương trình, chế độ, chính sách được rà soát, ban hành. Đã chủ động thanh tra, kiểm tra trên các lĩnh vực xây dựng cơ bản, tài chính, quản lý sử dụng tài nguyên khoáng sản, đất đai… Xử lý nghiêm những vụ việc được phát hiện. Nhận thức của cán bộ, đảng viên về phòng, chống tham nhũng, lãng phí được nâng lên.

5- Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được nâng cao, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân
Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã có nhiều đổi mới, đa dạng hoá các hình thức tập hợp, phát triển thêm nhiều tổ chức thành viên, đoàn viên, hội viên, chú trọng củng cố tổ chức, phát huy vai trò, chức năng giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được củng cố, tăng cường, tạo đồng thuận cao trong xã hội.
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân có nhiều đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; các hoạt động đã hướng về cơ sở, gắn với đoàn viên, hội viên. Đặc biệt đã tích cực phối hợp với uỷ ban nhân dân và các cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp thông qua việc tham gia đề xuất một số chủ trương, chính sách đảm bảo an sinh xã hội, các dự án, chương trình phát triển kinh tế, giải phóng mặt bằng, giải quyết những phát sinh trong nhân dân. Chú trọng nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua; động viên các tầng lớp nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Các tổ chức đã phát huy vai trò giám sát việc thực thi pháp luật, thực hiện quy chế dân chủ và phản biện xã hội, góp phần giúp cấp uỷ, chính quyền nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Nhân dân đã phát huy tinh thần tương thân, tương ái, ý thức cộng đồng, giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, tham gia khắc phục hậu quả thiên tai. Thông qua việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân trong xây dựng Đảng, chính quyền, thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương.
Công tác dân tộc được chăm lo. Các cấp đã quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi, hải đảo, hỗ trợ các xã nghèo, khó khăn; bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị vùng miền núi, dân tộc; có nhiều biện pháp để đồng bào dân tộc định canh, định cư, phát triển sản xuất, ổn định đời sống. Chính sách tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng được bảo đảm. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo, đồng bào vùng dân tộc được cải thiện, đồng bào yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo được củng cố, tiến bộ; an ninh vùng dân tộc, tôn giáo được giữ vững.

6- Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được chú trọng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên được nâng lên
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được nâng cao, có chuyển biến rõ rệt. Việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt chỉ thị, nghị quyết được đổi mới,  tiết kiệm thời gian và đảm bảo tính định hướng, tính thời sự cao. Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, giáo dục truyền thống đã góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong Đảng bộ, trong xã hội, nhất là trong những công việc quan trọng như: Chủ trương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội, phân giới cắm mốc, chấn chỉnh tình trạng khai thác, tiêu thụ than trái phép; chống lạm phát, suy giảm kinh tế... Nhân dân đồng thuận, phấn khởi trước những thành tựu đạt được của đất nước, của tỉnh và tin tư­ởng vào đư­ờng lối đổi mới của Đảng, sự lãnh đạo của cấp ủy, chỉ đạo điều hành của chính quyền.
Công tác tổ chức cán bộ được tập trung đổi mới. Quy hoạch cán bộ các sở, ban, ngành, địa phương được rà soát, bổ sung kịp thời, tạo sự chủ động hơn cho đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ. Nguồn cán bộ có đổi mới đáng kể. Chú trọng đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, cán bộ có trình độ chuyên môn cao và cán bộ dự nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý từ tỉnh đến cơ sở. ( [28] ) Tiến hành thường xuyên việc đánh giá cán bộ.
Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng đư­ợc duy trì thư­ờng xuyên, gắn với triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nhằm xây dựng, củng cố tổ chức đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (khoá X). Tỉnh uỷ và các cấp uỷ đảng đã chỉ đạo thực hiện có nền nếp công tác tự phê bình và phê bình hàng năm, thực hiện công tác đánh giá chất lượng các tổ chức đảng và đảng viên gắn với kiểm điểm tập thể và cá nhân. Những tập thể cấp ủy và cá nhân đảng viên có vấn đề được nhân dân quan tâm góp ý, kiến nghị được làm rõ, nghiêm túc tiếp thu, sửa chữa. Khắc phục cơ bản tình trạng buông lỏng lãnh đạo hoặc bao biện làm thay; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; đoàn kết nhất trí trong Đảng, ý thức Đảng được nâng lên.
Công tác xây dựng tổ chức đảng, hệ thống chính trị ở cơ sở được chăm lo. Chức năng, nhiệm vụ của cơ sở được xác định rõ, hoạt động theo chương trình. Lề lối làm việc, công tác chỉ đạo, điều hành có bước đổi mới, đã chú trọng lựa chọn những khâu còn yếu, những vấn đề trọng tâm để tập trung chỉ đạo, triển khai. Công tác quản lý đảng viên tại cơ quan và nơi cư trú được tăng cường; chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ được nâng cao . C ông tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh được gắn với xây dựng, củng cố chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và tổ chức các phong trào thi đua. Hầu hết các tổ chức cơ sở đảng giữ vững và phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở , dân chủ trong Đảng, trong xã hội được mở rộng hơn.
Công tác phát triển tổ chức đảng và đảng viên ở những địa bàn, những cơ sở khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc được tăng cường. Công tác phát triển tổ chức đảng, đảng viên và các đoàn thể quần chúng trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quan tâm chỉ đạo. Mô hình tổ chức, bộ máy của cấp ủy được kiện toàn, các tổ chức trong hệ thống chính trị được sắp xếp đồng bộ. Công tác phát triển đảng viên mới được chú trọng, chất lượng đảng viên được nâng lên rõ rệt. ( [29] )
Công tác luân chuyển, đề bạt, điều động, bổ nhiệm cán bộ được thực hiện đúng quy định. Quy trình đề bạt, bổ nhiệm cán bộ được đổi mới theo hướng mở rộng dân chủ, công khai. Thực hiện cán bộ trình bày đề án công tác khi bổ nhiệm, bổ nhiệm lại; thí điểm bí thư đảng uỷ đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân tại 21/186 xã, phư­ờng. Nhiều địa phương, đơn vị có cán bộ được luân chuyển điều động, bổ nhiệm mới, hoạt động có chuyển biến tích cực. ( [30] ) Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm chỉ đạo, tập trung giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay đối với người xin vào Đảng, cán bộ đưa vào quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng, nhất là đối với cán bộ dự kiến vào chức danh lãnh đạo chủ chốt.
Công tác kiểm tra, giám sát giữ gìn kỷ luật Đảng của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp được tăng cường ( [31] ) . Qua kiểm tra đã phát hiện, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có sai phạm. Nhiều cuộc kiểm tra, giám sát được tập trung vào các vấn đề bức xúc, phát sinh được cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm. Qua đó, giúp cấp uỷ đánh giá đúng tình hình, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai của cấp ủy, chính quyền các cấp. Các cuộc kiểm tra, giám sát không những chỉ ra khuyết điểm, bất cập, đưa ra giải pháp khắc phục mà còn phát hiện nhân tố mới để nhân rộng.
Công tác dân vận nói chung, dân vận của chính quyền nói riêng đã được cấp uỷ, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo đạt kết quả. Dân chủ trong đảng tiếp tục được phát huy, nhân dân đồng thuận, ủng hộ và tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, góp phần giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn.
Phư­ơng thức lãnh đạo của cấp ủy được đổi mới gắn sát thực tiễn, sát cơ sở, thực hiện bằng quy chế và các chương trình, kế hoạch cụ thể. Hội nghị Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ được thực hiện đúng chương trình. Nội dung các chương trình công tác hàng năm của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy trực thuộc phù hợp với định hướng của Trung ương và nhiệm vụ cụ thể của địa phương, cân đối các lĩnh vực nhằm bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong tình hình và yêu cầu mới. Không khí dân chủ, trao đổi và tranh luận thẳng thắn giữa các đại biểu được phát huy. Nguyên tắc tập trung dân chủ được giữ vững, vai trò của tập thể ban chấp hành, ban thường vụ và từng cấp uỷ viên được đề cao.
Mối quan hệ giữa cấp uỷ đảng với chính quyền và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân được duy trì chặt chẽ, thường xuyên. Cấp uỷ các cấp không tham gia quá sâu vào những công việc cụ thể liên quan đến chỉ đạo, điều hành của chính quyền; mọi vấn đề đều được tập thể ban chấp hành, ban thường vụ, thường trực cấp uỷ bàn dân chủ theo phân cấp trước khi quyết định chủ trương, định hướng để hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cùng cấp tổ chức thực hiện.
Đã duy trì thành nền nếp định kỳ Thường trực Tỉnh uỷ làm việc với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; chỉ đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh ký kết các chương trình phối hợp với mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Do đó, đã khắc phục được tình trạng chỉ đạo quá cụ thể, chi tiết hoặc dàn trải, có việc làm thay nhưng vẫn sót việc, tạo sự chủ động cho mặt trận Tổ quốc và từng đoàn thể quần chúng trong tổ chức thực thi nhiệm vụ.

7- Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt kết quả bước đầu tích cực
 Phát huy kết quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tỉnh uỷ đã tập trung chỉ đạo triển khai nghiêm túc Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đã triển khai nhiều hoạt động, hình thức phong phú, sinh động, gắn với nâng cao tính thiết thực của việc thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, sửa đổi lối làm việc, tác phong công tác, đề cao ý thức phục vụ nhân dân, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của từng tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước.  100% các tổ chức đảng đã tổ chức học tập chuyên đề; tỷ lệ cán bộ, đảng viên tham gia học tập đạt trên 95%. Sau học tập, hầu hết đã tổ chức thảo luận, liên hệ và đề ra những nhiệm vụ cụ thể về học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Tất cả cán bộ chủ chốt, người đứng đầu từ cấp phòng trở lên đã liên hệ đề ra chương trình cụ thể "làm theo" tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cá nhân đảng viên đã liên hệ báo cáo trước chi bộ. Nhiều đơn vị tổ chức cho đảng viên thảo luận nội dung chủ đề gắn với nhiệm vụ được giao.
Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đã nâng cao nhận thức, ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống, ý chí vượt khó, ý thức phục vụ nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Bước đầu Cuộc vận động đã tạo sự chuyển biến qua những việc làm cụ thể, thiết thực như: Tăng cường đầu tư đảm bảo an sinh xã hội, nhất là khu vực miền núi, hải đảo, vùng khó khăn; nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư và đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn xây dựng cơ bản; rút ngắn thời gian giải quyết công việc cho tổ chức và công dân; tiết kiệm chi phí đi lại, rút ngắn thời gian hội họp; đổi mới việc tổ chức các hoạt động lễ hội; khắc phục, sửa chữa những thiếu sót, khuyết điểm... Đó là những việc làm, những hành động cụ thể học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Ngày càng xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc trong thực thi pháp luật, thực hành tiết kiệm; chống tham ô, lãng phí, quan liêu; vì nhân dân phục vụ, sáng tạo trong lao động, sản xuất, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh.

II- NHỮNG THIẾU SÓT, YẾU KÉM
1- Kinh tế phát triển khá cao nhưng chưa bền vững, một số ngành phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp. Năng suất, chất lượng, hiệu quả và công nghệ của nhiều ngành kinh tế còn thấp. Kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh.
Ngành Than trước yêu cầu phát triển nhanh nhưng cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và quản lý nội bộ chưa theo kịp yêu cầu; cơ chế chính sách của Nhà nước cho đầu tư đổi mới công nghệ và hạ tầng kỹ thuật, khắc phục và giải quyết ô nhiễm môi trường, xây dựng công trình phúc lợi còn bất cập; sự phối hợp giữa ngành với địa phương có lúc, có việc chưa hiệu quả. 
Tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn còn chậm; mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô vẫn nhỏ và phân tán. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển. Huy động vốn đầu tư phát triển xã hội còn thấp so với khả năng, nhu cầu. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện nhưng vẫn còn không ít khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là về đất đai, nguồn vốn.
Một số dự án hạ tầng quan trọng phụ thuộc vào chủ trương và nguồn vốn của Trung ương triển khai còn chậm: Đường cao tốc Hà Nội - Hạ Long, Hạ Long - Móng Cái, Sân bay quốc tế Vân Đồn...
Do tập trung nguồn lực cho đầu tư đảm bảo an sinh xã hội, bên cạnh đó, do tác động của suy giảm kinh tế và điều chỉnh lại quy hoạch hoặc việc lựa chọn nhà đầu tư chưa đúng nên một số công trình như: Hạ tầng các khu công nghiệp, Cảng khách Hồng Gai, Cảng Dân Tiến, quần thể văn hoá Lán Bè và Trung tâm thể thao Cột 3 (Hạ Long), cảng cá Hạ Long và Cẩm Phả... đã được xác định tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII nhưng triển khai chậm hoặc chưa được đầu tư xây dựng. Chất lượng công tác quy hoạch một số lĩnh vực, địa bàn còn hạn chế; công tác quản lý quy hoạch còn nhiều yếu kém.

2- Một số lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường còn hạn chế, yếu kém
Đời sống văn hoá - xã hội có mặt chưa tương xứng với phát triển kinh tế; thiếu các thiết chế văn hoá lớn. Công tác xã hội hóa và v iệc huy động nguồn lực xã hội đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá - thể thao, bảo vệ chăm sóc người cao tuổi, trẻ em còn hạn chế.
Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khoảng cách phát triển giữa các vùng miền còn lớn, đời sống một bộ phận dân cư, nhất là vùng sâu, vùng xa, hải đảo và một bộ phận công chức nhà nước còn nhiều khó khăn. Chất lượng giảm nghèo chưa thật vững chắc, tỷ lệ hộ cận nghèo còn lớn. Ô nhiễm môi trường, cảnh quan còn gây bức xúc, lo lắng.

3- An ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội có mặt còn hạn chế
Nhận thức, trách nhiệm đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa đầy đủ. Việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh có lúc, có nơi chưa tốt.
Các vi phạm về trật tự xã hội có nhiều vấn đề mới, diễn biến phức tạp, nhất là tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, học sinh, tội phạm có tính côn đồ, manh động, sử dụng vũ khí nóng có chiều hướng gia tăng. Công tác quản lý và tổ chức cai nghiện có mặt hiệu quả chưa cao. Công tác thi hành án dân sự còn hạn chế. Tai nạn giao thông, tai nạn lao động còn nhiều vụ nghiêm trọng; tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp.

4- Hoạt động của bộ máy chính quyền trên một số lĩnh vực chưa theo kịp yêu cầu phát triển
 Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, tài nguyên (đất, than), môi trường sinh thái, đô thị, dịch vụ văn hoá... chưa theo kịp yêu cầu. Một số địa bàn để xảy ra vi phạm nghiêm trọng (quản lý khai thác, tiêu thụ than). Công tác kiểm tra, đôn đốc, tham mưu, đề xuất của một số ngành, địa phương, có mặt, có lúc còn chậm, chưa chủ động. Sự phối hợp giữa một số ngành trong giải quyết công việc chưa đồng bộ. Cải cách thủ tục hành chính tuy đã có nhiều tiến bộ song có mặt chưa đạt yêu cầu, nhất là sự phối hợp giữa một số ngành, địa phương, thái độ phục vụ của một bộ phận công chức.
Chất lượng một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa gương mẫu trong thực thi công vụ, còn vi phạm kỷ luật. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có mặt hiệu quả chưa cao; phối hợp trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của một số ngành, địa phương còn hạn chế. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong quản lý tuy đã có tiến bộ nhưng chưa đáp ứng yêu cầu.

5- Công tác xây dựng Đảng và hoạt động của mặt trận tổ quốc, đoàn thể nhân dân có mặt còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới
Công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn chưa phong phú, sinh động. Tuyên truyền vận động thực hiện các chủ trương có lúc, có nơi chưa hiệu quả, nhất những vấn đề liên quan đến đất đai và công tác giải phóng mặt bằng.
Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" ở một số nơi còn có biểu hiện hình thức, kết quả "làm theo” còn ít, có mặt chưa thực chất. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, sa sút ý chí, vi phạm kỷ luật. Ở một số nơi vai trò của người đứng đầu chưa được phát huy. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên tuy có tiến bộ song chưa đạt yêu cầu. Chất lượng tổ chức cơ sở đảng, chất lượng sinh hoạt đảng, vai trò lãnh đạo của cấp uỷ trong các loại hình doanh nghiệp còn hạn chế. Việc phát triển đảng viên, xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế ngoài nhà nước còn chậm. Công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, có nơi sinh hoạt đảng chưa đều, nội dung nghèo nàn, đấu tranh phê bình còn yếu. Chất lượng tham mưu của một số cơ quan giúp việc cho cấp uỷ có mặt còn yếu, chậm đổi mới.
Công tác đánh giá cán bộ có trường hợp chưa thực sự căn cứ hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị. Công tác quy hoạch, bổ sung quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đề bạt, bổ nhiệm cán bộ một số nơi chưa được kết hợp chặt chẽ. Việc đánh giá, phân loại tổ chức đảng và đảng viên ở một số cơ sở chưa sát, có nơi còn chạy theo thành tích. Công tác kiểm tra, giám sát của một số ít cấp uỷ đảng chưa được quan tâm đúng mức, việc tự kiểm tra phát hiện tiêu cực, tham nhũng trong nội bộ hiệu quả chưa cao. V iệc kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm còn thiếu chủ động; chất lượng, hiệu quả công tác giám sát chưa cao, có nơi còn lúng túng.
Công tác giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân hiệu quả còn thấp. Việc tuyên truyền, vận động, tập hợp, thu hút đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia các phong trào, cuộc vận động có lúc, có nơi còn hạn chế. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tuy có cố gắng song có nơi, có việc còn mang tính hành chính.

III- ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT
5 năm qua, trong tình hình có nhiều khó khăn, thách thức, song Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII và đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện.
Kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, tiềm lực và quy mô tăng mạnh. Do ảnh hưởng lớn của lạm phát, suy giảm kinh tế những năm cuối nhiệm kỳ tác động làm tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) cả nhiệm kỳ không đạt kế hoạch, song vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng 12,7%, thuộc nhóm tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao của cả nước. Văn hoá - xã hội được quan tâm phát triển, tiến bộ. Ngân sách đầu tư cho phát triển giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa tăng bình quân 35,6%/năm, đã tạo cơ sở vật chất trường, lớp, bệnh viện, trạm y tế khang trang. An sinh xã hội đặc biệt được chú trọng, với mức đầu tư tăng bình quân 59%/năm. Đời sống nhân dân vùng khó khăn được cải thiện căn bản, rút ngắn chênh lệch giữa các khu vực; môi trường sống có bước cải thiện khá rõ rệt.
Công tác quốc phòng - an ninh, quản lý nhà nước về biên giới, vùng biển được củng cố, tăng cường. A n ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; cải cách tư pháp chuyển biến tích cực; tệ nạn xã hội được ngăn chặn; hợp tác đối ngoại, xúc tiến, thu hút đầu tư được đẩy mạnh. Công tác lãnh đạo, điều hành từ tỉnh đến cơ sở có nhiều đổi mới và tiến bộ theo hướng chủ động, sáng tạo, tích cực sâu sát cơ sở, tăng cường phân cấp gắn với kiểm tra, kịp thời xử lý vướng mắc. Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được chú trọng, có đổi mới và đạt kết quả quan trọng. Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" được triển khai sâu rộng, đạt kết quả tích cực. Hệ thống chính trị được củng cố, chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên được nâng lên. Đội ngũ cán bộ, công chức tiếp tục trưởng thành mọi mặt. Công tác vận động quần chúng, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ.
Nhìn lại sau gần 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với những nỗ lực, cố gắng không ngừng, tỉnh Quảng Ninh đã có bước tiến bộ, chuyển biến căn bản, phát triển toàn diện, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước. Những kết quả, thành tựu đạt được trong 5 năm qua tiếp tục khẳng định vị thế, vai trò động lực của tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vùng đồng bằng Sông Hồng, tạo thế và lực mới cho sự phát triển của tỉnh trong thời gian tới.
Đạt được kết quả trên là do tỉnh Quảng Ninh luôn nhận được sự chỉ đạo, định hướng kịp thời của Đảng, Chính phủ, sự quan tâm, tạo điều kiện của các bộ, ban, ngành Trung ương. Cùng với đó là những biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt; việc phân công rõ trách nhiệm trong điều hành của cấp uỷ, chính quyền, sự nỗ lực, phấn đấu tích cực, trách nhiệm, với quyết tâm cao và đồng thuận của cả hệ thống chính trị, của các doanh nghiệp và của nhân dân.
Bên cạnh đó, do tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới trong những năm cuối nhiệm kỳ, tình hình thời tiết, dịch bệnh diễn biến bất thường... đã tác động ảnh hưởng đến các ngành sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. Một số cơ chế, chính sách của Nhà nước còn vướng mắc do bất cập, không đồng bộ n hưng chậm được tháo gỡ, sửa đổi. Mặt khác, n ăng lực lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của một số cấp uỷ đảng chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Đội ngũ cán bộ còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu. Không ít tổ chức cơ sở đảng chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của bộ máy chính quyền trên một số lĩnh vực còn yếu kém. Sự phối hợp giữa các ngành trong giải quyết công việc chưa chủ động, chặt chẽ. Cơ chế, chính sách của địa phương đề ra chưa đủ mạnh. Còn chậm trong đề xuất với Trung ương những cơ chế, chính sách đặc thù mang tính đột phá.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh xin chân trọng cảm ơn Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ban, ngành Trung ương đã dành cho Đảng bộ và nhân dân Quảng Ninh những tình cảm và điều kiện thuận lợi trong thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ qua; ghi nhận và biểu dương những nỗ lực, quyết tâm, đóng góp của cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ tỉnh đến cơ sở, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Quảng Ninh trong thực hiện nghị quyết đại hội đảng các cấp 5 năm qua; đồng thời nghiêm túc kiểm điểm, nhận trách nhiệm trước Đảng bộ và nhân dân về những hạn chế, thiếu sót đã nêu ở trên.

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, tỉnh Quảng Ninh rút ra những kinh  nghiệm quý báu, cụ thể như sau:
1- Nắm vững và bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện. Lãnh đạo, chỉ đạo phải kiên quyết, bám sát thực tiễn, không rập khuôn, máy móc; lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, chỉ đạo dứt điểm; phân công, phân nhiệm cụ thể nhằm phát huy vai trò từng tập thể, cá nhân. Tích cực tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung ương, huy động sự vào cuộc tích cực, đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân để tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao. 
2- Coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững. Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại. Đảm bảo an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là với người nghèo, đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
3- Chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Giữ vững nguyên tắc,  phát huy dân chủ, đoàn kết nội bộ; thực hiện cải cách hành chính, phát huy sáng tạo, đi đôi với kỷ luật, kỷ cương và cải cách tư pháp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành; phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vững vàng về chính trị tư tưởng, có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm vụ. Phát huy dân chủ gắn với chăm lo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.
4- Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy các cấp, nhất là những vấn đề lớn, nhạy cảm, dư luận quan tâm. Huy động nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp tạo đồng thuận trong xã hội (thông qua hệ thống chính trị, phương tiện thông tin đại chúng và các chủ trương, dự án đầu tư mang lại lợi ích thiết thực cho người dân).

Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2010 - 2015

I- BỐI CẢNH, NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN  TỈNH QUẢNG NINH TRONG NHỮNG NĂM TỚI
1- Những thuận lợi cơ bản
Quảng Ninh là tỉnh địa đầu vùng Đông Bắc Tổ quốc, có biên giới đất liền và biển, với các cửa khẩu giao thương nhộn nhịp nhất trên cả tuyến biên giới Việt - Trung, trong bối cảnh quan hệ hợp tác Việt - Trung cũng như ASEAN-Trung Quốc ngày càng được củng cố, đẩy mạnh. Với vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, tiềm lực kinh tế được xây dựng qua gần 25 năm đổi mới đã giúp tỉnh Quảng Ninh có vị thế ngày càng quan trọng trong hợp tác Hai hành lang - Một vành đai kinh tế Việt Nam - Trung Quốc.
Quảng Ninh có tiềm năng phát triển kinh tế biển, có nguồn tài nguyên giá trị trong bối cảnh nhu cầu năng lượng thế giới và trong nước ngày càng tăng cao; có tiềm năng du lịch của Vịnh Hạ Long và Di tích danh thắng Yên Tử... Cùng với đó, tỉnh Quảng Ninh có vai trò quan trọng, đã được Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ xác định khá rõ định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh đến năm 2020 trong các nghị quyết, quyết định.
Quảng Ninh là một trong những cái nôi của phong trào công nhân cách mạng, có truyền thống đoàn kết, kỷ luật và đồng tâm; đội ngũ công nhân hiện chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động, có tác phong làm việc công nghiệp. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành có thêm nhiều kinh nghiệm, từng bước thích ứng với môi trường hội nhập.

2- Những khó khăn, thách thức
Khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới còn tác động rất lớn đến tình hình trong nước; thiên tai, dịch bệnh khó lường sẽ ảnh hưởng lớn đến sản xuất - kinh doanh, đời sống của nhân dân và việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Quá trình hợp tác phát triển tạo ra sự cạnh tranh không nhỏ trong việc thu hút các nguồn lực cả trong và ngoài nước.
Hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là giao thông bất cập lớn, không theo kịp sự phát triển, đặc biệt trong bối cảnh tự do hóa thương mại ASEAN-Trung Quốc vào năm 2015. Ô nhiễm môi trường do việc khai thác than nhiều năm; mâu thuẫn, tác động đan xen giữa phát triển công nghiệp với du lịch.
Cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, mức độ sẵn sàng hội nhập quốc tế của doanh nghiệp còn thấp, văn minh đô thị, nông thôn còn khoảng cách khá lớn so với yêu cầu của địa bàn cửa ngõ với các ngành công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là du lịch hiện đại, quốc tế.
Quy mô sản xuất một số ngành nhỏ bé, phân tán, chi phí sản xuất cao, khả năng cạnh tranh hạn chế; sản xuất nông nghiệp manh mún, giá trị thấp.
 
II- ĐỊNH HƯỚNG PHẤN ĐẤU GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
1- Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống chính trị. Phát triển kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững trên cơ sở  nâng cao hơn nữa năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế. Tạo bước phát triển đột phá về hạ tầng giao thông, đô thị và phát triển nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Phát triển văn hóa, xã hội tương xứng với phát triển kinh tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, cải thiện rõ rệt môi trường sinh thái. G iữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. M ở rộng, phát huy dân chủ và sức sáng tạo của nhân dân. P hấn đấu x ây dựng Quảng Ninh thực sự trở thành một địa bàn động lực, năng động của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cửa ngõ quan trọng trong hợp tác kinh tế quốc tế, đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

2- Quan điểm phát triển 
(1)- Tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả tăng trưởng để phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Tạo bước phát triển rõ nét, nâng cao vị thế chiến lược của Quảng Ninh và tạo dựng các yếu tố cần thiết để trở thành một mắt xích quan trọng trong hợp tác Việt Nam - ASEAN - Trung Quốc.
(2)- Tập trung đầu tư phát triển văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội tương xứng với phát triển kinh tế. Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các địa phương, vùng miền. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước. Tăng cường thu hút dân cư góp phần tăng dân số địa phương.
(3)- Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới trên bộ, trên biển; xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, phát triển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại; chủ động hội nhập quốc tế.
(4)- Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp; nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính; ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

3- Chỉ tiêu chủ yếu
a-  Về kinh tế : 
- Tăng trưởng GDP bình quân (giá so sánh): Trên 13%/năm
- Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng bình quân: Trên 13,5%/năm
- Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm, ngư tăng bình quân: Trên 3,5%/năm
- Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tăng bình quân:  Trên 14,4%/năm
- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân: Trên 7%/năm
- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân: Trên 10%/năm
- Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế năm 2015: 
+ Công nghiệp và xây dựng:  53%
+ Nông, lâm, ngư nghiệp: 4%
+ Các ngành dịch vụ:  43%
- GDP bình quân đầu người năm 2015: 3.000-3.050 USD   

b- Về xã hội : 
- Giải quyết việc làm mới hàng năm:  2,6 vạn lao động             
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn quốc gia mới):  1,1%/năm
- Giảm tỷ lệ sinh bình quân: 0,02%/năm
- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng năm 2015 xuống còn: 15%     
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2015 đạt: 60%
- Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 2015 xuống: 4,3%

c- Về môi trường (đến năm 2015): 
- Tỷ lệ che phủ rừng đạt:  53,5% trở lên                    
- Tỷ lệ dân nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh: Trên 95%
- Thu gom chất thải rắn ở đô thị đạt: 90%

d- Về xây dựng Đảng 
- Tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh đạt :  75%/năm
- Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt :  75%/năm
- Tỷ lệ kết nạp đảng viên mới đạt:   3 - 5%/năm

4- Phương hướng
(1) Phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực, đặc biệt là lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế, chính trị, tài nguyên thiên nhiên, nhất là khoáng sản và tiềm năng du lịch, để Quảng Ninh cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015 .
Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu, trọng tâm là dịch vụ thương mại quốc tế, dịch vụ vận tải đường bộ, đường biển, những lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh nhằm khai thác tốt và khẳng định vị trí cửa ngõ giao lưu chính của Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ và giữa Việt Nam - ASEAN với Trung Quốc.
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp gắn với phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, bảo vệ và giải quyết ô nhiễm môi trường sinh thái. Tạo điều kiện phát triển công nghiệp khai khoáng theo hướng hiện đại, tiết kiệm tài nguyên, giảm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thô. Ưu tiên phát triển những ngành có giá trị gia tăng cao, tăng sản phẩm chế tạo, chế biến. Đưa công nghiệp giữ vững vai trò động lực trong phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp đóng tàu và dịch vụ vận tải biển. Đầu tư có chiều sâu, hiện đại hoá các nhà máy cơ khí đóng tàu hiện có. Tiếp tục nâng cấp, mở rộng hoàn thiện các khu công nghiệp đóng tàu; triển khai xây dựng một số nhà máy đóng tàu. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư đồng bộ hạ tầng các khu công nghiệp đã quy hoạch.
Tạo bước phát triển nhanh, rõ nét về du lịch nhằm khai thác và phát huy tối đa lợi thế Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, khu di tích danh thắng Yên Tử và các khu di tích lịch sử văn hoá khác để du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Tập trung đầu tư đưa vào sử dụng các tuyến giao thông huyết mạch tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, nhất là trục đô thị Móng Cái - Cẩm Phả - Hạ Long - Uông Bí, đáp ứng tiến trình hội nhập quốc tế, góp phần tăng cường quốc phòng, an ninh. Phát triển mạnh các khu đô thị công nghiệp nhằm chuẩn bị tốt về nhà ở và các điều kiện sinh hoạt khác để thu hút thêm dân số bổ sung nguồn nhân lực có chất lượng cho phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế.
(2) Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng an ninh, xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, phát triển ổn định, lâu dài
Đẩy mạnh đầu tư nâng cấp và xây dựng kết cấu hạ tầng tuyến biên giới đất liền và vùng biển đảo, tạo điều kiện phát triển kinh tế vùng biên và xây dựng tuyến biên giới giàu mạnh.
Quan tâm phát triển các dự án và xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng biên giới. Phát triển mạnh kinh tế biển đảo gắn với xây dựng vùng biển đảo Cô Tô, Vân Đồn. Tăng cường xây dựng, củng cố an ninh cơ sở, nhất là vùng nông thôn, vùng dân tộc, miền núi, hải đảo.
 Có cơ chế, chính sách đẩy mạnh thu hút đầu tư hợp lý với các đối tác, tạo thế đan xen lợi ích trên địa bàn toàn tỉnh, chú trọng địa bàn thành phố Móng Cái và các huyện Hải Hà, Bình Liêu, Vân Đồn.
(3) Tăng cường đầu tư các thiết chế văn hóa, thể thao, đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm khoảng cách giữa các vùng, miền.
Đẩy mạnh đầu tư đưa vào sử dụng một số thiết chế văn hóa thể thao trọng điểm, thiết chế văn hoá tại một số địa phương; xây dựng, phát triển đồng bộ các thiết chế văn hoá, thể thao cơ sở. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bình đẳng giới, giải quyết việc làm, giảm nghèo vững chắc, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo; đảm bảo an sinh xã hội. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Bảo vệ và cải thiện rõ rệt môi trường sinh thái; chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.
(4) Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ phục vụ mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá các ngành kinh tế, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành . Đ ẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, dịch vụ, phát triển mạnh những ngành có lợi thế, gắn với thu hút đầu tư phát triển những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, chú trọng thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, công nhân kỹ thuật lành nghề.
(5) Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp, tạo bước chuyển rõ nét về cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính . T hực hiện nhất quán các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư, tạo môi trường đầu tư lành mạnh . Thực hiện có kết quả Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo chỉ đạo của Trung ương.
(6) Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ mới. Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, chất lượng đảng viên, nhất là đảng viên giữ chức vụ trong hệ thống chính trị gắn với Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Phát huy dân chủ và vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân.

III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1- Phát triển kinh tế 
Đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp gắn với thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.1- Duy trì và nâng cao tốc độ phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, tăng tỷ trọng công nghiệp chế tạo, công nghiệp chế biến có giá trị gia tăng lớn. Phấn đấu tổng giá trị sản xuất bình quân 5 năm tăng trên 18%.
  Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất than đúng quy hoạch và đồng bộ với phát triển hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ, tiết kiệm tài nguyên, cải thiện rõ rệt môi trường sinh thái. Đến năm 2015 sản lượng than sạch đạt 60-65 triệu tấn.
Đẩy mạnh phát triển các nhà máy nhiệt điện và các ngành công nghiệp sử dụng than nhằm bảo vệ môi trường, tiết kiệm, nâng cao giá trị từ than. Đ ẩy mạnh phát triển công nghiệp đóng, sửa chữa tàu thuỷ. Phát triển công nghiệp cơ khí chế tạo thiết bị, khai khoáng, nhiệt điện, vận tải biển và công nghiệp phụ trợ, để tăng khả năng cung cấp nguyên phụ liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng, ô tô, xe máy, đóng tàu thuỷ... Phấn đấu đến 2015, tỷ trọng công nghiệp chế tạo, chế biến trong công nghiệp đạt 65%.
Tập trung thu hút các nhà đầu tư triển khai xây dựng phát triển các khu kinh tế, các khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp tập trung. Phối hợp và tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ triển khai các khu kinh tế, khu công nghiệp đã quy hoạch, nhất là các khu khu kinh tế, khu công nghiệp có vai trò động lực trong vùng như: Khu kinh tế Vân Đồn, Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Khu công nghiệp - cảng biển Hải Hà, Khu công nghiệp - dịch vụ Đầm Nhà Mạc, Khu công nghiệp Phương Nam (Uông Bí)... gắn với ban hành cơ chế thu hút nhà đầu tư vào khu công nghiệp và hình thành các cụm công nghiệp mới.
Tập trung nâng cao, đa dạng hóa các chủng loại vật liệu xây dựng. Khuyến khích đầu tư một số nhà máy sản xuất vật liệu nhẹ, vật liệu xây dựng không nung . Phấn đấu t ổng sản lượng xi măng đạt trên 7,5 triệu tấn/năm. Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thiết kế, qui hoạch xây dựng và chất lượng các công trình xây dựng. Tiếp tục đẩy nhanh và nâng cao chất lượng xây dựng cơ bản tập trung từ nguồn vốn ngân sách, đồng thời đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển kinh tế và phát triển hạ tầng.

1.2- Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững và thân thiện với môi trường. Gắn sản xuất với chế biến, thị trường và giải quyết có hiệu quả vấn đề nông dân, nông thôn, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X). Ứng dụng công nghệ tiến tiến để tăng năng suất, chất lượng các loại cây trồng, vật nuôi. Phát triển mạnh kinh tế hộ, trang trại, vùng chuyên môn hoá.
Tích cực ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, tăng năng suất, giữ diện tích trồng lúa theo quy hoạch. Đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô công nghiệp, phấn đấu tỷ trọng ngành chăn nuôi đạt trên 40% giá trị toàn ngành. Phát triển lâm nghiệp toàn diện, bền vững, nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 53% trở lên. Đẩy mạnh đánh bắt, nuôi trồngthủy sản đa dạng và bền vững, tập trung phát triển hậu cần nghề cá và chế biến thuỷ sản.                                 
Tập trung hoàn thành quy hoạch xây dựng nông thôn mới; đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ (giao thông, cung cấp điện, trường học, trạm y tế, hệ thống cấp, thoát nước, xử lý rác và các nghĩa trang...); chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho nông dân. Đẩy mạnh đưa công nghiệp, dịch vụ về nông thôn; đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp. Phát triển ngành nghề theo thế mạnh từng địa phương, quan tâm đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động. Nâng cao hiệu quả, bền vững công tác xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, địa phương. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả. T ạo điều kiện để nông dân tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa.
Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, nghiên cứu ban hành chính sách cho cán bộ cơ sở nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ cơ sở nâng cao trình độ, yên tâm công tác. Phấn đấu đến năm 2015 tỉnh Quảng Ninh cơ bản đạt các tiêu chí tỉnh nông thôn mới. ( [32] )

1.3- Đẩy mạnh phát triển dịch vụ thương mại, kinh tế cửa khẩu, du lịch, vận tải biển và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng, hàm lượng công nghệ cao
 Đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, hạ tầng cửa khẩu, cảng biển, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng... để dịch vụ thực sự là ngành kinh tế quan trọng, mũi nhọn của tỉnh trong những năm tới.
Phát triển tuyến du lịch Uông Bí, Hạ Long, Vân Đồn, Móng Cái. Nâng cao chất lượng, hiệu quả dịch vụ du lịch Vịnh Hạ Long, phát triển du lịch về phía Hòn Gai. Hình thành các khu du lịch sinh thái biển cao cấp, du lịch văn hoá và đa dạng hóa sản phẩm du lịch gắn với Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, Khu di tích danh thắng Yên Tử, Khu di tích lịch sử Bạch Đằng. Phấn đấu tới 2015 đón 6,9 triệu lượt khách du lịch, trong đó 3,3 triệu lượt khách quốc tế.
Phát triển hệ thống các siêu thị, trung tâmthương mại ở các thành phố, thị xã, huyện lỵ. Tập trung đầu tư xây dựng thành phố cửa khẩu Móng Cái giữ vai trò cửa ngõ giao lưu chính của Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc và giữa Việt Nam - Trung Quốc, ASEAN - Trung Quốc. Đ ẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, giảm dần xuất khẩu hàng thô. Phấn đấu đến năm 2015 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đạt 3 tỷ USD.
Phát triển dịch vụ vận tải nhất là vận tải biển. Tiếp tục mở rộng cảng Cái Lân, xây dựng cảng Hải Hà. Phấn đấu đến năm 2015 sản lượng hàng hoá thông qua các cảng đạt trên 55 triệu tấn. Phát triển mạnh dịch vụ bưu chính viễn thông, phấn đấu 100% gia đình có điện thoại, 100% trường học, thôn có internet.
Thực hiện nghiêm Luật Ngân sách Nhà nước, các luật Thuế, các qui định của Chính phủ về mua sắm, sử dụng tài sản; triệt để thực hành tiết kiệm trong chi ngân sách, chống lãng phí, gắn với mở rộng phân cấp, tạo điều kiện chủ động cho địa phương trong điều hành ngân sách, đảm bảo thu đúng, thu đủ, nuôi dưỡng nguồn thu. Tập trung vốn đầu tư các công trình, dự án hạ tầng kinh tế - xã hội trọng điểm.
Tạo điều kiện thuận lợi, nhất là về đất để các ngân hàng, bảo hiểm, các sàn giao dịch chứng khoán mở rộng, phát triển chi nhánh, đại lý trên địa bàn. Nâng cao chất lượng tín dụng, đưa hoạt động ngân hàng phát triển lành mạnh, an toàn, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn cho mọi đối tượng. Đẩy mạnh thanh toán điện tử để hạn chế sử dụng tiền mặt, coi đây là một biện pháp góp phần phòng, chống tham nhũng.

1.4- Tăng cường quản lý, bảo vệ và cải thiện rõ rệt môi trường sinh thái
Đẩy mạnh tuyên truyền,tạo sự chuyển biến đồng bộ về nhận thức và hành động trong thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, các dự án đầu tư bảo vệ môi trường.
Chú trọng phát triển các công trình xử lý nước thải tập trung, thu gom, vận chuyển, xử lý và chôn lấp chất thải, nhà máy xử lý rác, chất thải bệnh viện; quan tâm quy hoạch và quản lý nhà tang lễ, nghĩa trang theo hướng văn minh, hiện đại tại các địa phương. Kiểm soát, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời có các giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa, phát động các phong trào bảo vệ môi trường.
Khắc phục tình trạng suy thoái môi trường ở các khu công nghiệp, khu khai thác khoáng sản, khu vực lấn biển, san đồi và các khu đông dân cư, một số vùng nông thôn. Tăng cường quản lý, bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long; chú trọng cải thiện môi trường khu vực ven biển. Tập trung hoàn nguyên môi trường các bãi đổ thải, xử lý tình trạng bồi lắng sông Cửa Lục và các hồ chứa nước, ô nhiễm không khí...Di chuyển Nhà máy sàng tuyển than Nam Cầu Trắng, một số cơ sở chế biến than và các cơ sở gây ô nhiễm khác ra ngoài đô thị, khu đông dân cư để đảm bảo vệ sinh môi trường.
Phấn đấu đến năm 2015, 100% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn; thu gom 90% chất thải rắn ở đô thị; xử lý 100% chất thải y tế; 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý. Tạo chuyển biến rõ nét về môi trường sống.

1.5- Phát huy lợi thế các vùng, miền, đẩy mạnh hợp tác kinh tế quốc tế và kinh tế vùng
 Phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương; tăng cường liên kết giữa các địa phương theo quy hoạch, khắc phục tình trạng đầu tư trùng lắp, thiếu liên kết giữa các địa phương.
Vùng đô thị, q uan tâm đầu tư chỉnh trang và mở rộng không gian các đô thị, để làm động lực, hỗ trợ các vùng khác phát triển. Phát triển thành phố Hạ Long thành đô thị loại I; thành phố Móng Cái thành đô thị loại II; thị xã Uông Bí lên thành phố và tái lập thị xã Quảng Yên; chuẩn bị các điều kiện thành lập thị xã Tiên Yên sau năm 2015.
Vùng nông thôn, đ ẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất và giá trị trên một đơn vị diện tích đất canh tác; tập trung đầu tư xây dựng và phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến năm 2015, 100% các thôn, bản, khu dân cư có nhà văn hoá, 75% số xã trong tỉnh đạt tiêu chí nông thôn mới.
Vùng miền núi, biên giới, t iếp tục đầu tư nhằm khai thác tốt hơn lợi thế đất rừng để phát triển rừng, chăn nuôi gia súc, kinh tế trang trại và buôn bán tiểu ngạch. Vùng ven biển và biển, tập trung đầu tư phát triển đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản, du lịch sinh thái biển.
Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác phát triển với tỉnh Quảng Tây và một số địa phương khác của Trung Quốc; với các tỉnh miền duyên hải, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Vùng đồng bằng Sông Hồng, đặc biệt với thành phố Hải Phòng. N âng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục phát triển các mối quan hệ truyền thống. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân, đối ngoại biên giới.
Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài. Nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác có hiệu quả các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ phục vụ phát triển. Chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế.

2- Tập trung xây dựng, tạo bước phát triển đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội
2.1- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế hiệu quả, trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải
Chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành Trung ương làm tốt công tác xúc tiến và huy động các nguồn lực trong nước và nước ngoài dưới nhiều hình thức để triển khai xây dựng các công trình hạ tầng có ý nghĩa chiến lược cho sự phát triển, đặc biệt là hạ tầng hệ thống giao thông đường thuỷ, đường bộ, hàng không, hạ tầng các khu kinh tế, khu cửa khẩu. Chú trọng công tác đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển và chỉnh trang các đô thị theo hướng hiện đại, văn minh.
Tích cực tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư hạ tầng giao thông, nhất là các tuyến giao thông huyết mạch: đường cao tốc Hạ Long - Móng Cái, đường nối Quảng Ninh với quốc lộ 5B, hoàn thành mở rộng Quốc lộ 18, đường lên các cửa khẩu, mở rộng cảng Cái Lân, xây dựng sân bay Vân Đồn; đầu tư hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp như: Khu kinh tế Vân Đồn, Khu công nghiệp - cảng biển Hải Hà, Khu công nghiệp Phương Nam (Uông Bí), Khu công nghiệp dịch vụ Đầm Nhà Mạc (Yên Hưng), Khu công nghiệp Việt Hưng (Hạ Long); hạ tầng các khu đô thị mới tại Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí, Cẩm Phả...
Quan tâm đầu tư các công trình thủy lợi, các trung tâm du lịch, thương mại. Xây dựng mới các tuyến đường dây tải điện quan trọng; ưu tiên đầu tư hệ thống cấp điện cho các đảo. Nâng cấp, mở rộng các nhà máy nước hiện có, phát triển mở rộng mạng lưới cung cấp nước sinh hoạt. Đầu tư nâng cấp hệ thống thoát và xử lý nước thải tại các đô thị.

2.2- Xây dựng các thiết chế văn hóa xã hội
Đầu tư và đưa vào sử dụng một số thiết chế thể thao trọng điểm vùng Đông Bắc. Tập trung đầu tư các trung tâm thể thao, bảo tàng, thư viện, nhà hát, nhà triển lãm tỉnh và các thiết chế văn hoá tại một số địa phương. Hoàn thành hệ thống nhà công sở, nhà sinh hoạt, vui chơi cho nhân dân, đặc biệt là người cao tuổi, trẻ em.
Xây dựng hệ thống trường, trong đó tập trung xây dựng mới các cơ sở đại học. Tiếp tục đẩy mạnh kiên cố hóa trường, lớp học, nhà công vụ cho giáo viên, ưu tiên cho vùng sâu, vùng cao, vùng khó khăn, vùng có mật độ dân cư đông, bảo đảm đủ phòng học 2 buổi/ngày, cao tầng hoá các trường học ở những nơi khó khăn về đất, các trường chuyên biệt, giáo dục mầm non.
Tăng đầu tư của Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh huy động mọi nguồn lực phát triển các cơ sở khám, chữa bệnh, giảm tình trạng quá tải trong các bệnh viện. Phấn đấu đến nửa đầu nhiệm kỳ hoàn thành chỉ tiêu mỗi bệnh nhân trên một giường bệnh. Ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho các bệnh viện, các trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh, huyện và đẩy nhanh tiến độ đầu tư bệnh viện chuyên khoa. Đa dạng hoá các hình thức đầu tư phát triển và kinh doanh hạ tầng, chú trọng hình thức hợp đồng PPP (hợp tác Nhà nước - tư nhân); chú trọng đầu tư chung cư và nhà ở cho người có thu nhập thấp, người nghèo.

3- Cải thiện môi trường đầu tư, huy động nguồn lực đầu tư; phát triển các thành phần kinh tế
3.1- Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, huy động nguồn lực phục vụ phát triển
Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, trọng tâm là đơn giản hoá thủ tục hành chính, tạo quỹ đất “sạch”, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp, công dân trong giải quyết công việc với cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai. Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước gắn với chuyên môn hoá quy trình giải quyết thủ tục hành chính. Thực hiện công khai hóa các quy trình, thủ tục hành chính và giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp. Quy định rõ chức năng, trách nhiệm, quyền hạn của các sở, ngành, địa phương và từng công chức ở từng khâu trong quy trình tiếp nhận, xử lý các yêu cầu của doanh nghiệp; giảm chi phí, thời gian cho doanh nghiệp.
Huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển; chú trọng thu hút các đối tác lớn để xây dựng một số công trình hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng trên địa bàn tỉnh. Tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát đầu tư, để nâng cao chất lượng các dự án đầu tư, chống lãng phí, tiêu cực trong đầu tư xây dựng cơ bản.
Khuyến khích tham gia đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ưu tiên phát triển các cơ sở sản xuất, các ngành nghề sản xuất, dịch vụ gắn với phát triển hạ tầng dân cư đô thị nhằm thu hút thêm lao động có chuyên môn cao về tỉnh, tạo điều kiện giải quyết lao động chuyển từ ngành than do áp dụng tiến bộ kỹ thuật khai thác mới.

3.2- Phát triển các thành phần kinh tế
Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển thích ứng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, tài nguyên để các thành phần kinh tế phát triển. Phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân. Mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước phát triển, gắn với đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh, đồng thời tăng cường quản lý đảm bảo sử dụng hiệu quả tài nguyên (đất, khoáng sản, bến bãi, hải cảng...). Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã. Tạo điều kiện cho các tập đoàn kinh tế phát triển; phát triển các loại hình kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; phát triển các hợp tác xã, các trang trại, gia trại. Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp với hình thức sở hữu hỗn hợp.
Phát triển mạnh thị trường bất động sản và thị trường lao động. Có chính sách cụ thể để tạo quỹ đất "sạch", cơ bản áp dụng hình thức đấu giá quyền sử dụng đất xây dựng nhằm tăng thu cho ngân sách và tạo điều kiện trong chuyển quyền sử dụng đất, sở hữu bất động sản. Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung đất canh tác; phát triển các trang trại, gia trại có quy mô lớn và vừa tại một số địa phương có điều kiện. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề; đa dạng hoá các hình thức đào tạo, nhất là đào tạo nghề, dịch vụ giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động. Hỗ trợ, nâng cao năng lực các trung tâm giới thiệu việc làm, hội chợ việc làm; tạo điều kiện và khuyến khích người lao động tự tạo việc làm.
Phát triển thị trường khoa học, công nghệ nhằm đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào sản xuất và đời sống.

4- Phát triển các lĩnh vực văn hoá - xã hội
4.1- Nâng cao hiệu quả các hoạt động văn hoá - thông tin tuyên truyền
Đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới. Đấu tranh chống các khuynh hướng lợi dụng văn hóa để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động đầu tư phát triển các hoạt động văn hoá, văn học nghệ thuật. Tập trung bảo tồn di tích cách mạng, di tích lịch sử, di tích văn hoá, các giá trị văn hoá phi vật thể; mở rộng mô hình bảo tồn các làng, bản cổ tiêu biểu. Phát triển nghệ thuật truyền thống của các dân tộc Quảng Ninh. Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị di sản thiên nhiên, di sản văn hóa phi vật thể với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại. Nâng cao hiệu quả, tính thiết thực, có chiều sâu cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Đẩy mạnh, ưu tiên, tạo điều kiện xây dựng lực lượng văn nghệ sĩ Vùng mỏ.
Phát huy mạnh mẽ chức năng giáo dục và phản biện xã hội của các lực lượng, các phương tiện thông tin trong tỉnh. Đổi mới, nâng cao chất lượng Báo Quảng Ninh; phát triển mạng lưới phát thanh, truyền hình cơ sở nhằm cung cấp thông tin đầy đủ, sát đúng cho nhân dân và phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí vững về chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và có năng lực tiếp cận công nghệ truyền thông mới.
Phát triển, mở rộng việc sử dụng internet và dịch vụ cung cấp thông tin khoa học kỹ thuật, khuyến nông, khuyến công, chăm sóc sức khoẻ..., đồng thời có biện pháp hạn chế mặt tiêu cực, nhất là với thanh thiếu niên, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động lợi dụng internet để truyền bá tư tưởng phản động, lối sống không lành mạnh.

4.2- Nâng cao chất lượng giáo dục, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực
Phát triển toàn diện và mạnh mẽ giáo dục, đào tạo, duy trì kết quả giáo dục trong nhóm 10 tỉnh đứng đầu cả nước . Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. Nâng cao hiệu quả, tính thiết thực công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; phấn đấu 70% số trường đạt chuẩn quốc gia. Hoàn thiện các chỉ tiêu về phổ cập giáo dục ở các ngành học, cấp học. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Triển khai có hiệu quả đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Tạo cơ chế liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và nhà nước để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tập trung củng cố và hiện đại hoá cơ sở vật chất các trường dạy nghề, trung học, cao đẳng, đại học và phân hiệu trường đại học hiện có. Tạo điều kiện thuận lợi nhất về cơ sở vật chất để mở thêm các cơ sở của các trường đại học có uy tín tại tỉnh.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, coi trọng thu hút đầu tư đào tạo nghề. Có chính sách phù hợp thu hút nhân tài và nguồn nhân lực có tay nghề, trình độ cao về công tác trên địa bàn tỉnh.

4.3- Đẩy mạnh đầu tư, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân
Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ chăm sóc bà mẹ, trẻ em. Tăng cường công tác y tế dự phòng. Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế. Phấn đấu đến năm 2015, 95% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đủ các loại vắcxin theo chương trình quốc gia; 100% số xã có bác sĩ; 95% dân số tham gia bảo hiểm y tế.
Tăng cường quản lý, đầu tư và vận động nhân dân làm tốt công tác vệ sinh, an toàn thực phẩm, phòng bệnh, chăm sóc sức khoẻ. Nâng cao thể lực, giảm tỷ lệ mắc bệnh và tăng tuổi thọ bình quân của người dân. Kiềm chế và giảm mạnh lây nhiễm HIV. Duy trì mức sinh hợp lý, có giải pháp tăng dân số cơ học phục vụ phát triển kinh tế.
Đẩy mạnh phong trào thể dục, thể thao, rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe. Huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển thể thao thành tích cao; duy trì và phát triển các môn thể thao thế mạnh của tỉnh. Phát triển hệ thống thi đấu thể thao cơ sở. Huy động mọi nguồn lực để xây dựng các công trình phục vụ các hoạt động luyện tập, thi đấu thể thao. 

4.4- Tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ, tích cực nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
Tập trung nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khai thác than hầm lò, vận tải kín, đảm bảo an toàn người, tài sản và môi trường trong sản xuất kinh doanh than.
Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, cải cách hành chính, dịch vụ công, bảo vệ môi trường , các ngành kinh tế trọng điểm, có lợi thế.
Ưu tiên phát triển các cơ sở công nghiệp mới, sử dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, đồng thời khuyến khích hỗ trợ các đơn vị, doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ lạc hậu. Phấn đấu đến năm 2015 hàm lượng khoa học, công nghệ trong các sản phẩm thương hiệu Quảng Ninh đạt 38-40% GDP; phấn đấu một số ngành có trình độ công nghệ đạt ở nhóm đầu trong nước. 
Triển khai có kết quả việc đổi mới quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học, công nghệ. Khuyến khích phát triển các tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ trong các lĩnh vực. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động đầu tư phát triển khoa học, công nghệ.

4.5- Tập trung đầu tư giải quyết các vấn đề xã hội
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệt khu vực nông thôn. Chăm lo công tác bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện làm việc, giảm thiểu tai nạn lao động. Quan tâm phát triển nhà ở cho người lao động trong các khu, cụm công nghiệp. Mỗi năm tạo việc làm mới cho trên 2,6 vạn lao động. Đến năm 2015, lao động khu vực nông nghiệp còn dưới 35%; khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 33-34%; khu vực dịch vụ 35-36%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn dưới 4,3%, lao động qua đào tạo đạt 60%.
Thực hiện chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ xã hội sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng. Duy trì vững chắc thành quả đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, gắn với dạy nghề, giải quyết việc làm, nâng cao trình độ cho người nghèo. Nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của nhân dân, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, hải đảo. Phấn đấu mỗi năm giảm khoảng trên 1,1% hộ nghèo (theo chuẩn mới).
Chăm lo và phát huy vai trò người cao tuổi, người có uy tín trong gia đình, xã hội, trong các phong trào và thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và địa phương.
Thực hiện tốt các chính sách chăm sóc người có công, gia đình thương binh - liệt sĩ. Tập trung đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội, nhất là ma túy, mại dâm, phòng chống tội phạm buôn bán người qua biên giới.

5- Đảm bảo quốc phòng - an ninh và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khu vực biên giới và vùng biển
Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao cảnh giác, chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, nhất là khu vực biên giới, vùng biển. Tiếp tục phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc. Nâng cao chất lư­ợng công tác giáo dục, bồi dư­ỡng kiến thức quốc phòng, an ninh.
Đẩy mạnh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc. Tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng khu vực vành đai biên giới. Quản lý chặt chẽ đư­ờng biên, mốc giới, các cửa khẩu trên bộ, các phương tiện hoạt động trên biển, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác phát triển. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân, đối ngoại biên giới; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng an ninh và mở rộng đối ngoại, phát triển các mối quan hệ truyền thống trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực và bản sắc văn hóa dân tộc.
Tiếp tục nâng cao chất lượng tổng hợp, toàn diện của lực lượng vũ trang. Tổ chức huấn luyện, diễn tập thuần thục các phương án, nâng cao khả năng phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thực hiện tốt chính sách hậu phương, quân đội, đặc biệt quan tâm đào tạo việc làm cho bộ đội xuất ngũ.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, trấn áp các hoạt động tội phạm nhất là tội phạm xuyên biên giới, tội phạm công nghệ cao, tội phạm liên quan đến than, tham nhũng, buôn lậu, sử dụng vũ khí nóng ; phòng ngừa và giảm thiểu các tệ nạn xã hội; kiềm chế và giảm mạnh tai nạn giao thông, tai nạn lao động. Đảm bảo giữ vững an ninh, trật tự vùng nông thôn, dân tộc, miền núi.

6- Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp
6.1- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp
Đẩy mạnh xây dựng bộ máy chính quyền các cấp, bảo đảm chính quyền thực sự là của dân, do dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế và đời sống xã hội.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp nhằm phát huy cao nhất vai trò cơ quan quyền lực nhà nư­ớc ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân. Đổi mới công tác tiếp xúc cử tri, công khai kiến nghị và giải quyết kiến nghị của cử tri.
Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của ủy ban nhân dân các cấp theo pháp luật. Đề cao kỷ luật, kỷ cương hành chính và trách nhiệm của uỷ ban nhân dân, ng­ười đứng đầu trong thực thi công vụ.
Thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách tư pháp theo Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bảo đảm cải cách hoạt động xét xử là trọng tâm; nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của viện kiểm sát nhân dân. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vào đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp. Tăng cường sự tham gia giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.
Thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở, mở rộng và phát huy dân chủ, phát huy sức sáng tạo của nhân dân; đề cao trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.

6.2- Đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới
Nâng cao hiệu quả ch­ương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nư­ớc ở tất cả các cấp, các ngành, địa phương. Đi sâu cải cách, đơn giản hoá thủ tục hành chính, bãi bỏ các thủ tục gây phiền hà, tập trung những khâu dịch vụ liên quan đến tổ chức và công dân như: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép kinh doanh; đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, cấp đổi bằng điều khiển phương tiện cơ giới; hộ tịch, hộ khẩu, xuất nhập cảnh... Nâng cao hiệu quả cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông"; đẩy mạnh phân cấp quản lý để nâng cao tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của từng ngành, từng cấp, từng công chức; gắn với hiện đại hóa công sở, sửa đổi lề lối làm việc, tác phong công chức, thực hiện nội qui công việc, thái độ phục vụ nhân dân, gắn với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách. Đẩy mạnh xã hội hoá các dịch vụ công với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Thực hiện triệt để việc phân định rõ quản lý hành chính nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý hoạt động dịch vụ công.
Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo yêu cầu nâng cao chất lượng cả về phẩm chất đạo đức và năng lực công tác để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện hội nhập. Áp dụng các cơ chế, biện pháp để ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ gây nhũng nhiễu, phiền hà cho tổ chức và công dân.

6.3- Đẩy mạnh phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí
Lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từ tỉnh đến cơ sở và từng đảng viên gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Phát huy vai trò của nhân dân, của công luận trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Thực hiện chế độ công khai, minh bạch trong lãnh đạo, điều hành của chính quyền các cấp về kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước, nhất là các dự án đầu tư, mua sắm từ ngân sách nhà nước, quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, đất đai), tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kiên quyết xử lý nghiêm các vụ việc tham nhũng hoặc cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí. 

7- Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, phát huy sức mạnh cả hệ thống chính trị
Tiếp tục nâng cao nhận thức về vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội. Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, tham gia quản lý xã hội. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu mới. Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình phát triển. Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển đội ngũ doanh nhân năng động, sáng tạo, có tinh thần tự tôn dân tộc, tôn trọng luật pháp, kỷ cương. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, truyền thống, lý tưởng, đạo đức, lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ cho thế hệ trẻ. Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong xã hội. Phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, bảo vệ nhân dân của cựu chiến binh.
Chăm lo đầu tư và giữ vững an ninh vùng dân tộc, tôn giáo, miền núi, hải đảo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo quy định của pháp luật. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
Đổi mới mạnh mẽ hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân hướng mạnh về cơ sở, chống hành chính hoá , phát huy cao nhất sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, các đoàn viên, hội viên trong xây dựng và phát triển quê hương. Tích cực xây dựng tổ chức đoàn, hội trong các tổ chức kinh tế khu vực ngoài nhà nước; chú trọng củng cố tổ chức khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Làm tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và giám sát của nhân dân trong việc thực thi pháp luật, thực hiện quy chế dân chủ; chủ động hòa giải và kiến nghị giải quyết các nguyện vọng chính đáng của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị vững mạnh. Gắn tổ chức các phong trào thi đua, tổ chức các hoạt động với thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa ph­ương, đơn vị.

8- Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng
8.1- Tăng cường xây dựng Đảng mạnh về chính trị
Đẩy mạnh đổi mới phương pháp, n âng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả việc nghiên cứu, quán triệt và cụ thể hóa, sơ, tổng kết việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Trung ­ương, của Tỉnh ủy. Gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
Nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả, sắc bén của công tác tư tưởng, công tác dân vận, đập tan mọi thủ đoạn xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hoà bình” của  các thế lực thù địch. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội. Tích cực đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và học lý luận chính trị; chú trọng nghiên cứu tổng kết thực tiễn. Tổ chức có hiệu quả mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên từ tỉnh đến cơ sở.

8.2- Nâng cao hiệu quả, tính thiết thực của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gư­ơng đạo đức Hồ Chí Minh” , đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minhthành nhiệm vụ thường xuyên của cán bộ, đảng viên, các chi bộ, tổ chức Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân, từ trong đảng, bộ máy chính quyền đến toàn xã hội.

8.3- Kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên 
Cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Tập trung chỉ đạo củng cố những tổ chức đảng yếu kém. Coi trọng đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đảng theo hướng mở rộng và phát huy dân chủ thực sự gắn với phê bình và tự phê bình, tăng cường kỷ cương, kỷ luật; khắc phục tính hình thức, đơn điệu trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu của tổ chức Đảng, chống cục bộ địa phương, quan liêu, độc đoán, dân chủ hình thức.
Tập trung chỉ đạo và triển khai tốt các giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên nhằm tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng, hiệu quả hoạt động của cấp uỷ và các loại hình cơ sở đảng. Củng cố, phát triển tổ chức đảng trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nhất là khu vực ngoài nhà nước. Tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên, quan tâm phát triển đảng viên mới. Xây dựng đội ngũ đảng viên có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần phê bình và tự phê bình, vững vàng tr­ước mọi khó khăn thử thách; đội ngũ cán bộ năng động, có bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, có đạo đức, trí tuệ, năng lực, chú ý xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp có bản lĩnh vững vàng, có năng lực đáp ứng yêu cầu.

8.4- Nâng cao chất lượng công tác cán bộ, coi trọng bảo vệ chính trị nội bộ
Có giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ, phát huy dân chủ, tạo bư­ớc chuyển biến cơ bản trong công tác cán bộ. Nâng cao chất lư­ợng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chú trọng đào tạo cán bộ ở các lĩnh vực mũi nhọn, các chuyên gia đầu ngành; có cơ chế trọng dụng người có đức, có tài, cán bộ trẻ. Làm tốt công tác quy hoạch cán bộ, tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ xuất thân từ công nhân, chuyên gia trên các lĩnh vực, bảo đảm sự chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.
Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế, sự tín nhiệm làm thước đo chủ yếu. Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo chiều dọc và chiều ngang ở các cấp, các ngành. Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển. Bổ sung hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định về sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Nâng cao trách nhiệm thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thành, trung thực với Đảng; các cấp uỷ, nhất là cấp cơ sở phải nắm chắc và quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên.

8.5- Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát
Tăng cư­ờng kiểm tra, giám sát việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, chấp hành quy chế làm việc; thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí trong quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên, công sản, xây dựng cơ bản; thực hiện chính sách, pháp luật trong bảo vệ môi trường, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tư pháp; kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Gắn chặt công tác kiểm tra, giám sát với công tác tư tưởng, công tác tổ chức và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, với đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải đồng bộ, nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả, thiết thực, gắn với nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát; phối hợp chặt chẽ với công tác thanh tra chính quyền, giám sát của hội đồng nhân dân, các cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi cơ quan. 

8.6- Đổi mới phương thức và nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp uỷ Đảng
Tiếp tục xây dựng bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định, quy trình công tác, nhất là quy chế hoạt động của các cấp uỷ để đẩy mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Làm rõ chức năng nhiệm vụ, mối quan hệ giữa cấp uỷ với các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Triển khai thực hiện tốt Quy chế dân vận trong hệ thống chính trị; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác vận động nhân dân. C ác cấp ủy đảng phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân; có cơ chế để nhân dân bày tỏ chính kiến và thực hiện quyền làm chủ của mình.
Chăm lo xây dựng, củng cố các cơ quan tham mưu chuyên trách, giúp việc cho cấp ủy. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng. Đổi mới và nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết, coi trọng chỉ đạo, kiểm tra, kiểm điểm, tổng kết việc thực hiện nghị quyết. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng, chế độ lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu.

+
+   +

Tỉnh Quảng Ninh đang đứng trước cơ hội mới của sự phát triển. Với truyền thống đoàn kết, với kinh nghiệm và những thành quả đã đạt được trong nhiệm kỳ qua, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII khẳng định quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho giai đoạn 2010-2015, để Quảng Ninh thực sự là địa bàn động lực và cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp, theo hướng hiện đại, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.


        
         
Nơi nhận:
- Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh
  lần thứ XIII (để báo cáo)
- Lưu VPTU.


                     T/M BAN CHẤP HÀNH  
                                BÍ THƯ 
  
                            Vũ Đức Đam 
                                 (đã ký)
  
  
                                        

                                   


--------------------------------------
[1] Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,4%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,9%, khu vực dịch vụ tăng 12,5%.

[2] GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) năm 2010 ước đạt 1.330 USD.

[3] Tổng giá trị sản xuất công nghiệp 5 năm ước đạt 109.800 tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân/năm của một số sản phẩm chủ yếu là: Xi măng 86,6%, than sạch 6,6%, điện lên lưới 40,8%, gạch nung 8%, dầu thực vật 17,5%. Trên địa bàn tỉnh hình thành trung tâm nhiệt điện chạy than (Nhiệt điện Quảng Ninh, Mông Dương, Cẩm Phả, Mạo Khê, Uông Bí); trung tâm sản xuất vật liệu xây dựng (các nhà máy xi măng Cẩm Phả, Thăng Long, Hạ Long; các nhà máy sản xuất gạch, ngói chất lượng cao); trung tâm công nghiệp đóng tàu…

[4] Năm 2005, giá trị sản xuất than chiếm 64,8% giá trị sản xuất công nghiệp và chiếm 35% trong GDP của tỉnh. Năm 2010 giá trị sản xuất than chỉ còn chiếm 25% giá trị sản xuất công nghiệp và 24,6% trong GDP của tỉnh.

[5] Tổng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản 5 năm đạt 12.453 tỷ đồng.

[6] Kế hoạch 5,3 - 5,5%

[7] Đến nay, có trên 96% số hộ dân nông thôn được sử dụng điện theo giá nhà nước, khoảng 83% dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh; chủ động tưới tiêu cho 74% diện tích gieo trồng; hoàn thành 424 km kênh mương tưới tiêu cấp II, III; đưa vào sử dụng mới 49 km đường huyện, 130 km đường xã, thôn bản; hoàn thành bàn giao lưới điện nông thôn cho ngành điện quản lý; 100% xã, phường, thị trấn có điện sử dụng ... Đến nay, toàn tỉnh có 764 km đường huyện, 2.233 km đường xã và khoảng 2.157 km đường thôn, bản.

[8] Kế hoạch 15 - 16%.

[9] Kế hoạch 15%.

[10] Doanh thu du lịch 5 năm 2006-2010 đạt 11.408 tỷ đồng.  

[11] Kế hoạch trên 30 triệu tấn.

[12] Đến nay, 100% số xã có thư, báo trong ngày, tỷ lệ máy điện thoại cố định, di động trả sau đạt 40 thuê bao/100 dân; internet ước đạt 12,3 thuê bao/100 dân

[13] Kế hoạch 4% - 54% - 42%.

[14] Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2006: 6.848 tỷ đồng; năm 2010 ước thu 19.085 tỷ đồng, trong đó thu nội địa năm 2006 : 3.316 tỷ đồng; năm 2010 ước thu 7.311 tỷ đồng.

[15] Kế hoạch : 10%

[16] Kế hoạch : 15%

[17] Năm 2005 vốn ngân sách nhà nước chiếm 11% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; năm 2010, vốn ngân sách nhà nước chỉ chiếm 8,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.  

[18] Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 2 năm 2009, 2010 ước đạt gần 6.000 tỷ đồng. 

[19] Trong 5 năm, vốn ngân sách đầu tư cho phát triển kinh tế đạt 48,6%, cho lĩnh vực xã hội đạt 44,4%.

[20] Trong 5 năm có 4.967 doanh nghiệp thành lập, vốn đăng ký 47.896 tỷ đồng. Đến hết tháng 6/2010, toàn tỉnh có 6.500 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký trên 60.000 tỷ đồng.

[21] Đến 30/6/2010, trên địa bàn tỉnh có 37 đơn vị là chi nhánh ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng cổ phần, ngân hàng chính sách, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và công ty cho thuê tài chính đang hoạt động; có 221 máy rút tiền tự động (ATM); 29 đơn vị tham gia kinh doanh bảo hiểm; 9 đơn vị có kinh doanh tiền tệ, tín dụng, mua bán chứng khoán; 6 đơn vị tham gia làm đại lý nhận lệnh giao dịch chứng khoán; 3 Trung tâm giới thiệu việc làm, 2 sàn giao dịch việc làm; có 438 đơn vị kinh doanh, tư vấn bất động sản, gồm: 230 công ty cổ phần, 26 công ty TNHH 1 thành viên, 163 công ty TNHH 2 thành viên, 19 doanh nghiệp tư nhân.

[22] Trong 5 năm đã đầu tư gần 140 tỷ đồng cho 135 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ. Quảng Ninh là tỉnh đầu tiên trong cả nước tổ chức hội nghị trực tuyến (họp Uỷ ban nhân dân tỉnh thường kỳ) giữa tỉnh với các địa phương; hội nghị trực tuyến triển khai nghiên cứu học tập, quán triệt các nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ tới 19 đảng bộ trực thuộc. Tích cực triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001-2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và từng bước mở rộng đối với các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh. Ứng dụng một số kỹ thuật mới, tiên tiến trong khám và điều trị tại các bệnh viện.

[23] Năm 2010 có tổng số 3.320 giường bệnh (năm 2005 có 2970 giường); 100% xã có nữ hộ sinh trong biên chế; tỷ lệ xã có bác sĩ trong biên chế tăng từ 36,4% (năm 2005) lên 80,75% (năm 2010). Tỷ lệ xã đạt chuẩn y tế quốc gia tăng từ 46,7% (năm 2005) lên 100% (năm 2010).

[24] Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 33% năm 2005 lên 48% năm 2010 (đào tạo nghề đạt 38%). 

[25] Đã giảm một nửa số hộ nghèo (năm 2006 là 8,95%), (năm 2010 còn 4,09%); Số xã, phường có đường ô tô đến trung tâm tăng từ 130 xã, phường năm 2005 lên 186 xã, phường năm 2010.

[26] Ngân sách Trung ương hỗ trợ 24,6 tỷ đồng, ngân sách tỉnh hỗ trợ 54,2 tỷ đồng, huy động xã hôị hoá 11,5 tỷ đồng.

[27] Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính hoàn thành trước cả nước; đã công khai hóa, minh bạch hóa các thủ tục hành chính cùng văn bản, ý kiến chỉ đạo điều hành của lãnh đạo tỉnh trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh (Từ năm 2009 đến nay đã công khai 15.000 văn bản, quyết định, văn bản quy phạm pháp luật); Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính nhà nước, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nhân dân; lề lối, tác phong làm việc của cán bộ, công chức, viên chức được chuẩn hóa theo hướng “công bộc” của dân.

[28] Đã phối hợp tổ chức đào tạo cao cấp, cử nhân chính trị cho 1.102 cán bộ; cử 364 cán bộ đi học sau đại học; bồi dưỡng cho 33.512 lượt cán bộ, công chức. 

[29] Trong 4 năm (2006-2009) đã kết nạp 13.695 đảng viên mới (tăng trên 5% so với tổng số đảng viên, đạt chỉ tiêu đề ra). Đã thành lập 126 chi bộ thôn, bản; đến nay 100% thôn, bản có đảng viên.

[30] Từ năm 2006 đến nay đã giới thiệu bầu cử, bổ nhiệm 241 đồng chí; bổ nhiệm lại 55 đồng chí; luân chuyển 117 lượt cán bộ diện Tỉnh uỷ quản lý.

[31] Cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra 1.147 đảng viên, 217 tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm; đã kết luận có 924 đảng viên, 89 tổ chức đảng có vi phạm, phải thi hành kỷ luật 516 đảng viên và 16 tổ chức đảng. Từ năm 2006 đến 6/2010, toàn tỉnh đã thi hành kỷ luật 1.814 đảng viên; có 608 cấp uỷ viên các cấp bị kỷ luật, 783 đảng viên bị xử lý hành chính, 139 trường hợp bị phạt tù.

[32] Theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành kèm theo Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009: Huyện đạt nông thôn mới khi có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới; tỉnh đạt nông thôn mới khi có 80% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới.
,
.
.
.
.
.
.