.

Kết quả kiểm điểm tự phê bình và phê bình của tập thể và cá nhân Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI)

Cập nhật lúc 05:26, Thứ Bảy, 22/09/2012 (GMT+7)

LTS: Như Báo Quảng Ninh đã đưa tin, sau 5 ngày làm việc với tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm, xây dựng và cầu thị, không né tránh, Hội nghị kiểm điểm tập thể, cá nhân Ban Thường vụ Tỉnh uỷ theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) đã hoàn thành các nội dung. Dưới đây, Báo Quảng Ninh xin đăng toàn văn kết quả kiểm điểm tự phê bình và phê bình của tập thể và cá nhân Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

Thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 27-2-2012, Kế hoạch số 08-KH/TW ngày 12-3-2012 và hướng dẫn của các ban xây dựng Đảng Trung ương về triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, sau thời gian chuẩn bị và trong 5 ngày (từ 16-9 đến 20-9-2012), với tinh thần trách nhiệm, chân thành, xây dựng, nghiêm túc, cầu thị, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ninh đã hoàn thành việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình đối với tập thể và cá nhân các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI).

Hội nghị cán bộ chủ chốt của tỉnh quán triệt Nghị quyết T.Ư 4 (khoá XI). Ảnh: Ngọc Hà
Hội nghị cán bộ chủ chốt của tỉnh quán triệt Nghị quyết T.Ư 4 (khoá XI). Ảnh: Ngọc Hà

1- Qua kiểm điểm đã khẳng định một số ưu điểm nổi bật:

a) Ban Thường vụ Tỉnh uỷ là một tập thể đoàn kết, thống nhất; luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, đấu tranh, phê phán các quan điểm trái với Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng; tích cực chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và thực hành tiết kiệm; tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc; có lối sống lành mạnh, giữ gìn phẩm chất đạo đức,  không có tư tưởng cục bộ, bè phái cũng như các biểu hiện cơ hội, thực dụng; Chủ động xây dựng quy chế chất vấn trong Đảng giúp Ban Thường vụ có thêm thông tin, ý kiến phản biện nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và khắc phục yếu kém khuyết điểm.

b) Trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác tổ chức cán bộ, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định của Đảng. Đổi mới quy trình đề bạt, bổ nhiệm cán bộ theo hướng mở rộng dân chủ, công khai; xây dựng quy chế thí điểm việc bổ nhiệm cán bộ thông qua đề án tranh cử chức danh bổ nhiệm trước khi lấy phiếu tín nhiệm. Phát hiện, bổ sung, tăng dần tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc...; Tăng cường đào tạo các hệ cao cấp, cử nhân chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và dự nguồn quy hoạch; Đã phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương (Đề án 165) để đưa đi đào tạo ở các nước diện cán bộ thuộc Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý từ nguồn kinh phí của Tỉnh.

c) Thực hiện nghiêm Quy định về nhiệm vụ và mối quan hệ của Thường trực Tỉnh uỷ; chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao trách nhiệm cá nhân trong quan hệ với tập thể khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Không có biểu hiện mất dân chủ, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền; không lợi dụng danh nghĩa tập thể để áp đặt ý đồ cá nhân; không có hiện tượng thành tích thì nhận, khuyết điểm đổ cho tập thể. Trong lãnh đạo, chỉ đạo luôn phát huy dân chủ, đưa ra thảo luận và quyết định tại Ban Thường vụ tất cả các vấn đề quan trọng, các vấn đề còn ý kiến khác nhau để đi đến thống nhất như: tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề  bức xúc, điểm nóng được nhân dân tin tưởng, đánh giá cao; Chấn chỉnh phương pháp, cung cách làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý trong tiếp xúc, giải quyết công việc với nhân dân, doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

2- Một số hạn chế, khuyết điểm chủ yếu và nguyên nhân:

a) Công tác giáo dục tuyên truyền, nắm bắt tư tưởng chưa chủ động, chưa nhạy bén, công tác xây dựng đảng, công tác giáo dục tư tưởng, chính trị ở cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa hiệu quả còn thấp. Còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vai trò lãnh đạo của một số tổ chức cơ sở đảng chưa được phát huy, tính chiến đấu của đảng viên ở một số nơi còn yếu. Công tác đánh giá, phân loại cán bộ, đảng viên và tổ chức cơ sở đảng chưa thực sự hiệu quả. Việc chủ động kiểm tra, ngăn chặn và xử lý các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hạn chế, do đó chưa chủ động phát hiện vi phạm, tiêu cực, đặc biệt phát hiện và xử lý các vụ việc tham nhũng còn ít.

Nguyên nhân chủ yếu là tính chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình chưa cao, có nơi có lúc chưa triệt để; một số mâu thuẫn, thách thức nảy sinh chậm được phát hiện, khắc phục; việc kiểm tra, giám sát, nêu gương của cán bộ chưa thường xuyên, có lúc, có việc chưa thật sự hiệu quả. Xử lý kỷ luật có việc, có trường hợp còn nương nhẹ, có lúc chưa đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật hành chính nên tính giáo dục và làm gương chưa cao.

b) Công tác đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên và một số tổ chức đảng chưa thực chất, thiếu những tiêu chí cụ thể, còn định tính, chưa quyết liệt, chưa gắn với tự phê bình và phê bình. Công tác theo dõi, quản lý, kiểm tra cán bộ chưa chặt chẽ; khâu đánh giá cán bộ trước quy hoạch còn yếu, chưa thực hiện đồng bộ, chưa chỉ ra được yếu kém, khuyết điểm của một số cán bộ cụ thể. Thực hiện quy hoạch cán bộ hiệu quả chưa cao. Cơ cấu đội ngũ cán bộ thiếu đồng bộ, chưa hợp lý; tuổi bình quân của cấp uỷ các cấp khá cao, chưa thật sự đảm bảo tính kế thừa liên tục. Chưa gắn quy hoạch với đào tạo bồi dưỡng và sử dụng. Trong sử dụng cán bộ có nơi, có lúc còn biểu hiện thiếu khách quan; chưa thay thế kịp thời những cán bộ giữ chức vụ nhưng làm việc chưa hiệu quả. Việc bố trí, sử dụng cán bộ mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, chưa quan tâm đúng mức đến việc đào tạo cán bộ lâu dài. Chưa có nhiều biện pháp hiệu quả trong luân chuyển cán bộ.

Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức về công tác quy hoạch và quy trình triển khai khai chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu. Chưa mạnh dạn đổi mới chủ trương về công tác cán bộ để mở rộng nguồn quy hoạch và đề ra giải pháp đột phá để mạnh dạn sử dụng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số.

c) Trong lãnh đạo còn có thời điểm còn chậm phát hiện vấn đề, chưa quyết liệt đề xuất để Trung ương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách cho tỉnh. Công tác kiểm tra, thanh tra được tiến hành thường xuyên, nhưng sau khi có kết luận thì việc tổ chức thực hiện, theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả còn hạn chế, dù gần đây đã được chú trọng hơn. Việc kiểm điểm thực hiện Quy chế làm việc chưa được tiến hành thường xuyên. Tổ chức thực hiện một số nghị quyết của cấp uỷ không cụ thể, khoa học. Cơ chế quy định trách nhiệm cá nhân trong thực thi công vụ chưa rõ.

Nguyên nhân chủ yếu là do năng lực lãnh đạo của đảng bộ, sự quản lý điều hành của chính quyền tỉnh có mặt còn chưa tương xứng với yêu cầu và đòi hỏi của tình hình; cơ chế lãnh đạo chậm đổi mới; chưa tạo ra được cơ chế hiệu quả để thực sự phát huy dân chủ, giải phóng năng lực cá nhân, kiểm tra giám sát chặt chẽ.

3- Phương hướng khắc phục hạn chế, khuyết điểm trong thời gian tới được tập thể Ban Thường vụ chỉ đạo tập trung vào 8 nội dung sau:

- Tập trung chỉ đạo công tác tư tưởng chính trị theo hướng tăng cường đối thoại, tăng cường cung cấp thông tin, hướng mạnh về cơ sở.

- Chỉ đạo xây dựng chiến lược cán bộ; đổi mới công tác cán bộ trong tất cả các khâu quy hoạch, đào tạo - bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo, cách thức làm việc, như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; đẩy mạnh và duy trì thường xuyên tự phê bình và phê bình trong Đảng.

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện Nghị quyết T.Ư 4, kiểm tra giám sát, thanh tra, điều tra, xét xử những vấn đề tồn tại bức xúc trong quản lý đất đai, tài nguyên môi trường, xây dựng cơ bản, tài chính, tài sản...

- Thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo các nội dung chủ yếu: Chuyển đổi phương thức phát triển từ nâu sang xanh; tiếp tục thực kiện Kết luận số 47-KL/TW (khoá X) ngày 6-5-2009 và Kết luận của Bộ Chính trị tại buổi làm việc với Tỉnh uỷ Quảng Ninh ngày 8-9-2012; xây dựng lộ trình thực hiện các nhiệm vụ Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; đầu tư phát triển khoa học và ứng dụng công nghệ; xây dựng, phát triển văn hoá; đảm bảo an sinh xã hội.

- Thực hiện các giải pháp để bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và tiết kiệm tài nguyên theo Nghị quyết 41- NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX).

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử.

- Tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh.

* Trước mắt Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ninh tập trung chỉ đạo, giải quyết một số vấn đề sau:

- Khẩn trương rà soát, bổ sung các quy chế làm việc, quy chế điều hành, bổ nhiệm và điều động cán bộ, quy chế thi tuyển các chức danh Ban Thường vụ quản lý. Tích cực chủ động hơn trong bố trí sắp xếp và luân chuyển cán bộ chưa phù hợp với tình hình.

- Tập trung xây dựng được chiến lược, quy hoạch phát triển trước mắt và lâu dài phù hợp với diễn biến tình hình mới tại địa phương. Tích cực chủ động phối hợp với các cơ quan Trung ương để sớm hoàn chỉnh Đề án “Phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh và thí điểm xây dựng hai đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Móng Cái” báo cáo Ban cán sự Đảng Chính phủ, Bộ Chính trị.

- Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh xây dựng giải pháp và chỉ đạo quyết liệt việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng trong sạch, vững mạnh. Kiên quyết đấu tranh xử lý những cán bộ công chức trong khi thực thi công vụ gây phiền hà, sách nhiễu cho nhân dân và doanh nghiệp.

- Tập trung chỉ đạo và ưu tiên nguồn lực cho công tác xây dựng các quy hoạch: kinh tế - xã hội đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030; đô thị và hạ tầng; du lịch, bảo vệ môi trường; đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực... ở các cấp, các ngành và các địa phương theo tinh thần Nghị quyết 06-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về công tác quy hoạch.

- Xây dựng phương hướng khai thác, sử dụng hiệu quả dự án dàn đèn công nghệ cao tại Quảng trường Hạ Long phục vụ du lịch và nhu cầu thưởng thức văn hoá của nhân dân, sớm triển khai xây dựng công viên Lán Bè để nhân dân vui chơi giải trí.

- Tập trung cho nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, nhất là khai thác than, phát triển kinh tế biển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng các dự án phát triển các loại dịch vụ cao cấp tổng hợp ở Hạ Long, Yên Tử - Ngoạ Vân, Vân Đồn...

- Chỉ đạo thông tin đầy đủ cho nhân dân về việc trước đây dừng thi công một số công trình như: Nhà hát Hạ Long, sân vận động và khu thể thao Cột 3 và chủ trương, phương hướng xử lý các vấn đề này của tỉnh.

- Thành phố Hạ Long thực hiện các giải pháp khẩn trương di dời nhân dân đang sống trên làng bè tại Vịnh Hạ Long lên bờ để ổn định cuộc sống lâu dài và bảo vệ di sản - kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long (theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ tại Thông báo số 786-TB/TU ngày 13-9-2012).

- Phối hợp với Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam xây dựng các giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường trong khai thác than (chế biến, vận chuyển, đổ thải). Xây dựng các giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường do sản xuất vật liệu xây dựng; xây dựng các dự án xử lý chất thải đô thị, môi trường Vịnh Hạ Long; tập trung xây dựng các đề án và chỉ đạo quyết liệt để phục vụ phát triển kinh tế xanh.

- Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra truy tố, xét xử, kiên quyết xử lý dứt điểm các sai phạm trong khai thác, vận chuyển và kinh doanh than trái phép, các vấn đề liên quan đến quy hoạch, quản lý quy hoạch, đất đai, môi trường... các tiêu cực của một số cán bộ, đảng viên trong thực thi công vụ gây sách nhiễu, phiền hà trong giải quyết thủ tục hành chính.

- Khẩn trương xử lý, khắc phục sai phạm trong quản lý đất đai tại: Móng Cái, Vân Đồn.

- Ban cán sự Đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh tập trung chỉ đạo thanh tra, xử lý dứt điểm thu hồi các dự án “treo”, dự án chậm tiến độ, dự án gây ô nhiễm và phá hoại môi trường và các dự án đô thị và hạ tầng cố tình dây dưa trên phạm vi toàn tỉnh.

4- Về tự phê bình và phê bình của từng đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ

- Từng đồng chí kiểm điểm làm rõ những thiếu sót, hạn chế trong công tác tổ chức cán bộ, trong thực hiện nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, về trách nhiệm người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, ban, ngành, lĩnh vực.

- Đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của bản thân và phương hướng giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất trong lĩnh vực mình phụ trách.

- Các ý kiến phát biểu đi thẳng vào từng nội dung trong báo cáo tự kiểm điểm, khẳng định ưu điểm, phân tích bổ sung, góp ý về hạn chế, thiếu sót một cách khách quan, đi sâu góp ý về tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao, trách nhiệm của người đứng đầu, nói hết ý, tâm tư suy nghĩ với đồng chí mình.

- Tinh thần kiểm điểm diễn ra sôi nổi, dân chủ, trao đổi qua lại, thẳng thắn, không nể nang, né tránh nhưng chân thành, xuất phát từ ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ tập hợp ý kiến, nêu những điểm mạnh và tồn tại theo 3 nội dung  trong Nghị quyết của từng đồng chí và được hội nghị nhất trí.

- Các đồng chí được góp ý đều tiếp thu các ý kiến phê bình một cách cầu thị, nghiêm túc, chân thành trong bầu không khí của một tập thể đoàn kết, thống nhất.

,
.
.
.
.
.
.