.

Quán triệt quan điểm, định hướng của Đảng trong sửa đổi Hiến pháp

Cập nhật lúc 23:52, Thứ Năm, 21/02/2013 (GMT+7)

Hiến pháp là luật cơ bản, luật gốc của một nước. Chỉ những quan hệ xã hội cơ bản như chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền con người... quyết định sự tồn tại của quốc gia mới được quy định trong Hiến pháp. Trên cơ sở Hiến pháp, các quan hệ xã hội khác được quy định trong các Luật Dân sự, Hình sự, Lao động, Đất đai... Các ngành luật này không trái Hiến pháp.

Việc sửa đổi Hiến pháp được thực hiện theo trật tự pháp lý đặc biệt và bắt đầu từ Cương lĩnh của Đảng đến việc lấy ý kiến tham gia dân chủ, sâu rộng nhiều lần của nhân dân theo kế hoạch chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở.

Để việc sửa đổi Hiến pháp có hiệu lực, hiệu quả, cần quán triệt đầy đủ quan điểm, định hướng của Đảng; khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển.

Trước hết, sửa đổi Hiến pháp phải tiếp tục khẳng định quyền lực Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; khẳng định chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ là bất khả xâm phạm; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; toàn bộ sự nghiệp cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ hai, bốn bản Hiến pháp trước đây đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó, đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm quý báu, nền tảng cho việc sửa đổi Hiến pháp lần này. Những quan hệ xã hội cơ bản đã được quy định trong Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi) còn phù hợp, đương nhiên vẫn tồn tại, những quan hệ xã hội cơ bản nào được Hiến pháp quy định trước đây nay không còn phù hợp sẽ loại bỏ; thêm vào đó là các quan hệ xã hội phù hợp phải được quy định trong Hiến pháp sửa đổi. Việc kế thừa, loại bỏ, bổ sung những quy phạm pháp luật Hiến pháp phải phù hợp với tình hình đất nước mà ba trụ cột là dân trí, dân sinh, dân chủ và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Trải qua hơn hai mươi năm đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng cải thiện, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước kém phát triển; thực tiễn đã chỉ ra cho chúng ta phương thức phát triển kinh tế - xã hội là phải gắn kết chặt chẽ mục tiêu kinh tế với mục tiêu văn hoá, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Văn kiện Đại hội XI của Đảng xác định: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức... Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.

Các bản Hiến pháp trước, chế độ kinh tế thành chương riêng, nay gộp lại thành chương chế độ kinh tế, văn hoá, giáo dục là phù hợp cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, tổng hoà các quan hệ sản xuất hợp thành kết cấu kinh tế - xã hội, tức cơ sở thực tại hay cơ sở hạ tầng xã hội, trong tổng hoà các quan hệ sản xuất, có một quan hệ sản xuất đóng vai trò chủ đạo quyết định bản chất chế độ chính trị của một quốc gia. Ở nước ta, Đảng, Nhà nước nhất quán lâu dài nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này có nghĩa là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất nắm vai trò chủ đạo, phản ánh bản chất chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chủ đạo với nghĩa là mở đường, dẫn dắt chứ không là rào cản hay gây mất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. C. Mác chỉ rõ: Một người độc tấu tự điều khiển lấy mình, còn cả dàn nhạc phải có nhạc trưởng. Về thực tiễn, nước ta khi dân trí, dân sinh, dân chủ từng bước nâng cao, việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước phải đúng và phù hợp với dân trí, dân sinh, dân chủ và thông lệ quốc tế. Bởi vì, quyền không thể cao hơn địa vị kinh tế - xã hội của chủ thể trong quan hệ quốc gia và quan hệ quốc tế.

Trong quá trình sửa đổi Hiến pháp cần tiếp thu những kinh nghiệp lập hiến của các nước xã hội chủ nghĩa và các nước có nền lập hiến hiện đại. Đồng thời kiên quyết phản bác các thế lực thù địch xuyên tạc, can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước ta.

Với đường lối độc lập của Đảng, Nhà nước, sức sáng tạo và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta sẽ có bản Hiến pháp sửa đổi phù hợp với đất nước và thông lệ quốc tế, sớm đưa nước ta thành nước công nghiệp hiện đại, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ của nhân loại.

TS, Luật gia Trần Xuân Ảnh
(Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ)

,
.
.
.
.
.