Cho vợ đứng tên tài sản riêng, ly hôn đòi không được, chia đôi thì tiếc

Thứ Hai, 10/06/2019, 15:13 [GMT+7]
.
.

Tôi có ngôi nhà riêng từ khi chưa lấy vợ. Tôi có chứng minh rõ ràng, sau đó khi lấy vợ, tôi cho vợ đứng tên, ly hôn tôi có lấy lại được không?

Trước khi lấy vợ, tôi mua một miếng đất đứng tên của tôi. Sau khi xây nhà xong, tôi sử dụng ngôi nhà đó một thời gian rồi cho thuê. Tuy nhiên, ngôi nhà đó vẫn chưa hợp thức hóa thành sổ hồng.

3 năm sau thì tôi lấy vợ và sống trong ngôi nhà này. Sau đó thì vợ chồng tôi hợp thức hóa đứng tên cả hai vợ chồng trong sổ hồng.  Xin hỏi nếu vợ chồng tôi ly dị, tôi có lấy được ngôi nhà này không hay phải chia đôi. Xin tư vấn giùm tôi!

Thứ nhất: Thỏa thuận quyền sử dụng đất đứng tên 2 vợ chồng

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 về tài sản chung của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Cho vợ đứng tên tài sản riêng, ly hôn đòi không được, chia đôi thì tiếc.
Cho vợ đứng tên tài sản riêng, ly hôn đòi không được, chia đôi thì tiếc.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo quy định trên, tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sinh hoạt, sản xuất… Ngoài ra, những tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ chồng nhưng vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung thì tài sản đó được sáp nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp này, mảnh đất bạn mua trước thời kỳ hôn nhân khi làm sổ đỏ bạn đã đồng ý cho người vợ bạn cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mảnh đất đó được sáp nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Lúc này, vợ chồng bạn là đồng chủ sở hữu với mảnh đất đó nên khi ly hôn, tài sản về nguyên tắc sẽ được chia đôi.

Chia tài sản khi ly hôn

Theo Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Như vậy, việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo thỏa thuận của vợ chồng, nếu không thỏa thuận được sẽ thực hiện theo phân chia của tòa án.

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.

Luật sư Phạm Thị  Bích Hảo, Giám đốc Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, HN
 

Theo vietnamnet.vn

.
.
.
.
.
.
.
.