.

TX Quảng Yên cần hoàn thiện hồ sơ cấp lại GCNQSD đất cho bà Đỗ Thị Rà

Cập nhật lúc 07:40, Thứ Tư, 14/11/2012 (GMT+7)

Bà Đỗ Thị Rà thường trú tại thôn Cát Thành, xã Minh Thành, huyện Yên Hưng (nay là phường Minh Thành, TX Quảng Yên) phản ánh: Tháng 11-2010, tôi có làm đơn đề nghị UBND phường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD) đất ở cho gia đình tại thửa đất số 50, tờ bản đồ địa chính số 13, diện tích 2.578,5m2. Ngày 7-12-2010, Hội đồng xét duyệt nguồn gốc đất phường Minh Thành đã xác nhận với nội dung: Nguồn gốc thửa của bà Rà đề nghị cấp GCNQSD đất là đất ở ổn định từ năm 1970, không tranh chấp và chưa đăng ký trong sổ địa chính, sau đó chuyển hồ sơ về bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện để chuyển Phòng Tài nguyên và Môi trường thẩm định trình UBND thị xã cấp GCNQSD đất. Đến ngày 20-5-2011, TX Quảng Yên đã cấp GCNQSD đất số BE 271617, diện tích 2.878,5m2, trong đó có 400m2 đất ở và 2.478,5m2 đất trồng cây lâu năm cho gia đình.

Theo ý kiến của bà Rà, việc TX Quảng Yên chỉ cấp cho gia đình 400m2 đất ở là không đúng. Bà đề nghị phải cấp hết 100% diện tích là đất ở hoặc ít nhất cũng phải là 2.000m2 đất ở trên tổng diện tích đất của gia đình đang sử dụng với lý do nguồn gốc đất là đất ở lâu năm đã được chính quyền địa phương cho phép.

Căn cứ hồ sơ tài liệu mà chúng tôi thu thập được đã xác định nguồn gốc khu đất của bà Rà như sau: Tháng 7-1970, các ông Phan Ngưỡng, Trần Văn Tập, Nguyễn Thành là cán bộ miền Nam tập kết, công tác tại Lâm trường Yên Lập được nghỉ hưu có đơn gửi Uỷ ban hành chính (UBHC) xã Minh Thành xin đất làm nhà tại khu đất Lâm trường sơ tán, diện tích được ghi tại hồ sơ “khoảnh đất độ hai sào bắc bộ”. Ngày 29-7-1970, UBHC xã Minh Thành đồng ý cho hai ông Phan Ngưỡng và Trần Văn Tập được ở tại vị trí đó. Ngoài diện tích xin đất làm nhà, ông Ngưỡng còn có đơn xin ruộng tăng gia cải thiện đời sống gửi Ban quản trị HTX nông nghiệp Yên Lập, xã Minh Thành và được Ban quản trị đồng ý duyệt cho 4 sào bắc bộ (do ông Nguyễn Văn Lập, Phó ban Chủ nhiệm HTX duyệt ngày 28-6-1970). Sau đó ông Ngưỡng chuyển đi nơi khác, đã viết giấy nhượng lại nhà cho ông Tập sử dụng (giấy nhượng nhà viết tay vào tháng 2-1971), đồng thời ký chuyển giao luôn cả số diện tích ruộng cho ông Tập. Đến năm 1969 ông Tập và bà Rà kết hôn nhưng không có con chung (ông Đỗ Văn Tĩnh sinh năm 1966, là con riêng của bà Đỗ Thị Rà). Năm 1975, ông Tập về thăm quê ở miền Nam và đã chết năm 1975 và khu đất đó do bà Rà sử dụng ổn định cho đến nay. Năm 1994 khi huyện  lập bản đồ địa chính thì thửa đất đó mang số 50, tờ bản đồ số 13 do bà quản lý, sử dụng ổn định không tranh chấp.

Sau khi bà Rà có đơn khiếu nại, UBND thị xã không chấp nhận nội dung khiếu nại của bà đồng thời giữ nguyên nội dung xét cấp GCNQSD đất cho hộ gia đình bà là 400m2 đất ở và 2.478,5m2 đất trồng cây lâu năm (Quyết định số 5325/QĐ-UBND ngày 26-9-2011). Theo bà Rà, việc giải quyết của UBND thị xã là không đúng với quy định về chính sách đất đai nên tiếp tục khiếu nại đến UBND tỉnh về nội dung nêu trên.
Căn cứ vào chính sách đất đai, Luật Đất đai và các tài liệu hồ sơ lưu trữ về nguồn gốc đất của gia đình bà Rà cho thấy: Thửa đất bà đề nghị cấp GCNQSD đất đã được sử dụng làm đất ở ổn định từ năm 1970, không tranh chấp và phù hợp quy hoạch. Tại Điểm d, Khoản 1, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 quy định “giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15-10-1993, nay được UBND xã, phường, xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15-10-1993 là một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất”. Quy định tại Khoản 2, Điều 87, Luật Đất đai năm 2003 “trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18-12-1980 và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật này thì diện tích đất vườn ao đó được xác định là đất ở”. Tại Khoản 2, Điều 45, Nghị định 181/NĐ-CP quy định “...trường hợp ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2, và 5 Điều 50, Luật Đất đai thì diện tích đất ở được xác định không quá 5 lần hạn mức diện tích giao đất ở của tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ...”. Và Quyết định 4505/2007 của UBND tỉnh “Về việc quy định hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh” tại Khoản 2, Điều 3 quy định hạn mức giao đất ở cho 1 hộ tại các xã trung du, miền núi, hải đảo không quá 400m2/hộ. Như vậy, căn cứ tại Điểm a, Khoản 2, Điều 6 và Khoản 1, Điều 8 thì nội dung khiếu nại của bà Đỗ Thị Rà đề nghị được cộng nhận 5 lần hạn mức đất ở (2.000m2 đất ở không phải nộp tiền sử dụng đất) là có cơ sở.

Căn cứ vào các quy định và chính sách đất đai cho thấy, khiếu nại của bà Rà về việc đề nghị được công nhận 2.000m2 đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất là đúng, UBND TX Quảng Yên cần phải căn cứ quy định của pháp luật hoàn thiện hồ sơ cấp lại GCNQSD đất cho công dân.

Từ vụ việc của bà Đỗ Thị Rà, các cơ quan chức năng của TX Quảng Yên cần rút kinh nghiệm trong công tác giải quyết khiếu nại, trong việc nắm vững các quy định chính sách của Nhà nước, tránh thiệt thòi cho người dân và để tránh các vụ khiếu nại kéo dài.

Đặng Nhung

,
.
.
.
.
.