Nhà văn Nam Ninh vốn ở Quảng Ninh, sau đó mới về Thủ đô công tác. Khắc khoải, thương nhớ Vùng mỏ nên khi gửi bài cho Báo Quảng Ninh, ông cũng gửi theo lời chào tha thiết: Chào Quảng Ninh, chào tất cả bạn bè quen biết, tôi đã viết cuốn tiểu thuyết Khoảnh khắc đời người, nhớ đến từng ngọn cỏ của đất Quảng Ninh quê hương, nhớ tất cả các bạn!
 | Nhà văn Nam Ninh. | Vừa qua, ông có 2 truyện ngắn đoạt giải B (không có giải A) cuộc thi Truyện ngắn và thơ trên Tạp chí Văn nghệ quân đội (2008-2009). Đó là Chuyện không có trong báo cáo và Mắt trẻ thơ...
Nói về hai truyện ngắn này, ông tâm sự: ''...Đây là 2 truyện ngắn tôi viết trong 2 lần đi trại sáng tác (TST). TST Biển, đảo và người chiến sĩ Hải quân mở tại Bãi Cháy (2009) viết Chuyện không có trong báo cáo, TST do Nhà xuất bản Công an nhân dân mở tại Sầm Sơn (2008) viết Mắt trẻ thơ.
Nói về truyện ngắn Mắt trẻ thơ thì trước hết phải cảm ơn nhà xuất bản Công an nhân dân đã cho tôi được đến thăm một số trại giam ở Thanh Hoá. Lúc đó, tôi đang say sưa ghi chép lại các vụ án dẫn đến các tội phạm mà phạm nhân đang ngồi kể trước mặt, bỗng nhiên nghe anh em nhà văn ồn ào nói chuyện xung quanh cái nhà trẻ mà họ mới đi thăm về. Chỉ nói đến nhà trẻ dành riêng con chị em phạm nhân trong nhà tù nó đã dội lên trong tôi một cái gì đó rất khó tả. Tôi liền đến ngay nhà trẻ, đứng quan sát. Câu chuyện của tôi kể về một nhà văn quân đội quan sát những đôi mắt trẻ thơ hàng ngày chỉ quen với màu áo sọc của nhà tù, gần gũi chúng cũng chỉ có màu áo sọc, môi trường chúng cũng không ngoài thế, chúng ngóng tà áo sọc đến đón khi hết ngày. Mỗi đứa đều gắn với số phận của mẹ nó, chúng trả lời thản nhiên khi nhà văn hỏi: ''Cháu buôn ma tuý!'' (ấy là mẹ nó buôn ma tuý) ''Cháu giết người!'' (ấy bà mẹ nó giết người). Chúng cứ hồn nhiên bị cầm tù như thế. Trong đó lại có một cháu mắc bệnh AIDS từ khi mẹ đẻ ra, cháu chịu mọi sự kỳ thị đến tàn ác của những kẻ khốn cùng. Vậy là cháu còn bị cầm tù trong cái nhà tù chung ấy. Để có thể cách li hẳn cháu với chị em phạm nhân khác, mỗi tối đón về khu trại giam, người mẹ ấy phải trói chân con lại. Ban đầu cháu khóc, sau thành quen, thành ra tự nguyện, tự nguyện đến vô tư. Thưa các bạn, chắc các bạn cũng phải thống nhất với tôi thôi, tất cả câu chuyện là một câu hỏi lớn, người chiến sĩ, nhà văn ấy có thể chiến thắng ngoài mặt trận, lẽ nào lại gục ngã trước những đôi mắt trẻ thơ trong sáng ấy?
Bạn nói đúng, đôi mắt trẻ thơ ấy nó cứ ám ảnh tôi mãi, buộc mình phải cầm bút viết lại.
Còn Chuyện không có trong báo cáo viết về người lính biển. Trong một đất nước thanh bình nhưng chưa êm ả của chúng ta, ngày đêm lớp thanh niên ấy vẫn phải đối mặt với một sự thật: những con tàu chiến, những chàng lính thuỷ nước ngoài... bình thường là bạn bè đấy mà khi đối đầu nhau họ lại ở hai bên trận tuyến khốc liệt, đầy thử thách, biển êm đềm đấy mà cuộn sóng dữ dằn. Những người lính hải quân trước biển cả cứ hiện lồ lộ trong tôi, bạn tôi cũng vậy, tôi nhớ về người bạn ở Hạ Long mà tôi rất yêu mến, bạn tôi hiện ra, sần sùi, gai góc, mà chân thật đến hết lòng. Bạn tôi kể, một lần, một anh lính trên tàu chiến đấu mà anh bạn tôi làm thuyền trưởng, bơi 8 cây số vào đảo để theo đuổi một em, rồi họ thành vợ chồng. Câu chuyện cũng chỉ vẻn vẹn có thế. Mẩu chuyện này vụt loé trong tôi khi được nghe một buổi nói chuyện của tuyên huấn Quân chủng Hải quân, và quan sát những người lính ở Lữ 147 Quảng Yên. Tôi hát đến khản cả giọng cùng với họ. Trong chuyến đi này tôi nhận thức được, hoá ra người mong muốn có hoà bình nhất lại chính là người lính. Dân tộc ta là vậy, cực chẳng đã phải cầm súng chống trả. Bạn hỏi viết như thế nào thì tôi chỉ có thể trả lời, tình yêu thật thì viết ra nó thật như thế! Tố chất con người của lính nó mãnh liệt, nó thiết tha, sâu nặng, không chấp nhận sự khiên cưỡng. Nhà văn không thể nói khác đi được...”
Phan Hằng - (Thực hiện)
| | |
| Tin mới: |
| Các tin đã đưa: |
|